Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-PT

Ngày: 27/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và ông Võ Nguyên Tùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 02/2025/TLPT-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị T,

    sinh ngày 12 tháng 12 năm 1970; Nơi cư trú: Khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Nguyễn T3 (chết) và bà Trần Thị B (chết); Gia đình có mười anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  2. Võ Thanh T1,

    sinh ngày 21 tháng 5 năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Võ Hùng T4 (chết) và bà Phạm Thị Bích H1, sinh năm 1972; Gia đình có hai anh chị em, bị cáo là con đầu; Vợ: Trần Thị Mỹ D, sinh năm 1992 và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  3. Trần H,

    sinh ngày 12 tháng 8 năm 1992; Nơi cư trú: Khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần D1, sinh năm 1946 và bà Đặng Thị S, sinh năm 1951; Gia đình có sáu anh chị em, bị cáo là con út; Vợ: Huỳnh Thị Thu T5, sinh năm 1994 và có 02 con; lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  4. Trương Thị T2,

    sinh ngày 08 tháng 6 năm 1978; Nơi thường trú: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nơi ở hiện nay: Khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Con ông Trương C, sinh năm 1950 và bà Lê Thị M, sinh năm 1950; Gia đình có bốn anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Chồng: Nguyễn Văn T6, sinh năm 1973 và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  5. Nguyễn Ngọc Â,

    sinh ngày 08 tháng 11 năm 1976; Nơi cư trú: Khu phố U, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn P (chết) và bà Trần Thị T7 (tên khác: Trần Thị T8) (chết); Gia đình có sáu anh em, bị cáo là con thứ năm; Vợ: Võ Thị Kim L, sinh năm 1979 và có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra, còn có các bị cáo Trần Công B1 và Nguyễn Thị Thu T9 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/3/2023, Võ Thanh T1, Trần H, Trần Công B1 và Trương Thị T2 đến nhà Nguyễn Thị T tại khu phố U, phường H, thị xã Đ chơi. Sau đó, T, T1, H, B1, T2 nảy sinh ý định đánh bạc dưới hình thức đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền, Thãi chuẩn bị bài tây 52 lá, 01 tấm chăn để đánh bạc. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T, T1, B1, H ngồi 04 cột chính, T2 ngồi bên ngoài đặt tiền theo cột của T cùng đánh bạc với nhau, mỗi cột chính làm cái 02 ván, cột làm cái thắng ba cột chính 02 ván thì bỏ tiền xâu 50.000 đồng vào thau nhôm (do T đựng củ bông giờ cho mọi nguời ăn) mua bài, đồ ăn và nước uống để sử dụng chung. Đánh được một lúc, Nguyễn Thị Thu T9 và Nguyễn Ngọc  đến cùng tham gia đánh bạc, T9 đặt tiền theo cột của H,  đặt tiền theo cột của B1. Số tiền đánh bạc mỗi ván từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, bị Công an thị xã Đ phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.000.000 đồng, thu giữ trong thau nhôm 1.000.000 đồng, thu giữ trên người Thãi 850.000 đồng, T1 12.500.000 đồng, T2 1.400.000 đồng,  6.827.000 đồng, T9 600.000 đồng. Thãi, T1, T2, Â, T9 khai nhận số tiền trên nhằm mục đích sử dụng vào việc đánh bạc.

Vật chứng vụ án đang tạm giữ:

  • Số tiền 71.908.000 đồng. Trong đó tiền thu giữ tại chiếu bạc 7.000.000 đồng (trên chiếu bạc 6.000.000 đồng và trong thau nhôm 1.000.000 đồng), thu giữ trên người Thãi 850.000 đồng, T1 12.591.000 đồng, H 500.000 đồng, T2 1.400.000 đồng, T9 42.740.000 đồng, Â 6.827.000 đồng;
  • 02 bộ bài tây loại 52 lá đựng trong hộp bằng giấy, màu xanh-trắng, một đầu hộp giấy đã mở, kích thước (9x6x2)cm; 52 lá bài tây bằng giấy, màu xanh, mỗi lá bài kích thước (8,7x5,7)cm; 01 tấm chăn bằng vải màu nâu, kích thước (1,50x1,08)m; 01 thau nhôm bằng kim loại hình tròn, đường kính miệng 19cm, đường kính đáy 10,5cm, cao 06cm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa đã tuyên các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Trần H, Trương Thị T2, Nguyễn Ngọc  phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Võ Thanh T1. Xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 30.000.000đồng.
  • Bị cáo Võ Thanh T1 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Ngọc  09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000đồng.
  • Bị cáo Trần H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000đồng.
  • Bị cáo Trương Thị T2 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu T9 và Nguyễn Công B2; biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 21/10/2024, các bị cáo Nguyễn Ngọc Â, Trương Thị T2 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 28/10/2024, các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần H, Võ Thanh T1 kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định nên HĐXX tiến hành xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/3/2023, tại nhà bị cáo Nguyễn Thị T ở khu phố U, H, thị xã Đ, các bị cáo T, Võ Công T10, Trần H, Nguyễn Ngọc Â, Trương Thị T2, Nguyễn Thị Thu T9 và Trần Công B1 tham gia đánh bạc được thua bằng tiền thì bị bắt quả tang, xác định được số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 29.177.000đ.

Các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 đều thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng, không oan. Hội đồng xét xử nhận thấy bản án sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa kết tội các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật; quyết định mức hình phạt tù cho từng bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và đặc điểm nhân thân của các bị cáo.

Xét kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo T nộp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn; các bị cáo H, T1, Â, T2 nộp khoản tiền phạt bổ sung của bản án sơ thẩm là 10.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, các bị cáo T11, H, Â, T2 đều từng bị xử lý hành chính về hành vi đánh bạc, bị cáo T1 bị xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; những chứng cứ, tài liệu mới do các bị cáo cung cấp không đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Các bị cáo kháng cáo nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không chấp nhận kháng cáo - giữ nguyên bản án sơ thẩm. Khoản tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm do các bị cáo H, T1, Â, T2 đã nộp được khấu trừ trong quá trình thi hành án.

[3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 – Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 47/2024/HS-ST ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa về hình phạt đối với các bị cáo.

  2. Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với Võ Thanh T1.

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 đều phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt:

    • Bị cáo Nguyễn Thị T: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
    • Bị cáo Võ Thanh T1: 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    • Bị cáo Nguyễn Ngọc Â: 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    • Bị cáo Trần H: 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
    • Bị cáo Trương Thị T2: 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
  3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Thị T, Võ Thanh T1, Nguyễn Ngọc Â, Trần H, Trương Thị T2 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND thị xã Đông Hòa (2);
  • - Cơ quan CSĐT thị xã Đông Hòa;
  • - VKSND thị xã Đông Hòa;
  • - Chi cục THADS thị xã Đông Hòa;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu Tòa Hình sự và án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thơ Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 19/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger