|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HS-PT Ngày 14 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thúy Hà, bà Phan Thị Minh Tâm.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Ngọc Như Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Huỳnh Ngọc Thi - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLPT- HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo Lê Minh T, Nguyễn Huy C có kháng cáo của các bị cáo Lê Minh T Nguyễn Huy C1 với Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Lê Minh T(còn có tên gọi khác Tâm B, sinh ngày 03 tháng 01 năm 1987, tại An Giang; Nơi đăng ký thường trú: số A, khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Chỗ ở: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch:Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Lê Công T1 và bà Nguyễn Thị B1 chưa có vợ, con.
Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 153/2015/HSST ngày 17/12/2015, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 02 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép ma túy”, ngày 27/01/2022 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù;
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 19/10/2004, bị Công an phường B Lxử phạt hành chính 125.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”;
- - Ngày 18/02/2005, bị Tòa án thành phố L, tỉnh An Giangxử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù năm 2006;
- - Ngày 30/5/2008, bị Ủy ban nhân dân thành phố L Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời gian 24 tháng (chấp hành xong quyết định ngày 21/8/2011).
- - Ngày 08/02/2012, bị Ủy ban nhân dân thành phố L Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời gian 24 tháng (chấp hành xong quyết định ngày 20/12/2013).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 26/8/2024 cho đến nay; hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh A(có mặt).
-
Nguyễn Huy C2(còn có tên gọi khác B2, sinh ngày 04 tháng 3 năm 1975, tại An Giang; Nơi đăng ký thường trú: G, tổ D, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giangnghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Văn N bà Trịnh Kim C1vợ Tiết Thị X T2có 02 con.
Tiền án:
- - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2021/HSST ngày 14/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 10/9/2021 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù;
- - Tại bản án hình sự sơ thẩm số 76/2022/HSST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 10/9/2021 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- - Ngày 17/7/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 20 tháng (chấp hành xong quyết định ngày 07/11/2019);
- - Ngày 20/7/2020, bị Ủy ban nhân dân phường M Lxử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A(có mặt).
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 07 giờ 00 ngày 26/8/2024, Nguyễn Huy C3 khiển xe mô tô biển số 67N7 - 1687 của Nguyễn Phi H(con ruột Ctrước khi đi Ctháo biển số 67N7 - 1687, gắn biển số 67L5 - 1887 biển số nhặt được trong đống phế liệu của Tiết Thị X T2vợ CĐiều khiển xe đến nhà đến nhà Lê Minh T2 Ctìm kiếm tài sản trộm cắp để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Cđồng ý và giao xe mô tô cho Tchở C4 tìm tài sản trộm. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, đến khu vực khóm H, thị trấn A, huyện C, An GiangTnhìn thấy xe mô tô biển số 67L2 - 443.27 của Nguyễn Thanh V trên lề cặp Quốc lộ I hướng C - Ltrên xe có 01 ba lô màu đen, không người trông giữ. Tđậu cách xe Việt khoảng 05 mét cảnh giới, C5 lút lấy trộm ba lô nhanh chóng lên xe để T3 về hướng LTrên đường đi, Tlấy trong ba lô số tiền 20.000 đồng nên lấy mua nước uống. Khi đi đến khu vực phường M, thành phố L, tỉnh An Gianglực lượng Công an phát hiện, mời về làm việc.
* Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 ba lô màu đen, bên trong có chứa 01 màn hình test Camera LCD 7 inch; 01 bộ định vị không dây; 03 cục nguồn C203 con chuột máy tính có dây RTM 019; 01 áo kỹ thuật không có tay, màu đỏ (đã trao trả cho bị hại Nguyễn Thanh V01 xe mô tô gắn biển số 67L5 – 1887; 01 biển số xe 67N7 - 1687; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 047447 của xe mô tô biển số 67N7 – 1687.01 áo sơ mi; 01 quần jean, 01 áo thun thể thao và 01 quần sọt Jean.
Tại kết luận định giá tài sản số 37/KL. HĐ ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh An Giangkết luận: 01 ba lô màu đen, giá 30.000 đồng; 01 màn hình test Camera LCD 7 inch, 510.000 đồng; 01 bộ định vị không dây giá 780.000 đồng; 03 cục nguồn Camera, giá 0 đồng; 01 áo kỹ thuật 0 đồng; 03 con chuột máy tính có dây giá, 126.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 1.446.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 20.000 đồng bị cáo Lê Minh T4 tiêu xài cá nhân trên đường tiêu thụ tài sản. Quá trình điều tra, bị hại không yêu cầu bồi thường. Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST ngày 29/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Huy C2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T5 (hai) năm tù; bị cáo Nguyễn Huy C6 (hai) năm tù. Ngoài ra còn xử lý vật chứng, tính án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/12/2024, bị cáo Lê Minh T6 đơn kháng cáo; ngày 10/12/2024, bị cáo Nguyễn Huy C7 đơn kháng cáo; các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Minh TNguyễn H1 C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận như đã khai tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, xin Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt với lý do bản án hình sự sơ thẩm xử mức hình phạt nặng so hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự; không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Lê Minh T và bị cáo Nguyễn Huy C2, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm; các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Các bị cáo Lê Văn T3Nguyễn H2 Ckhông bào chữa hoặc tranh luận gì khác, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Minh T7 Huy Clàm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, các bị cáo Lê Minh TNguyễn H1 Cđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền để mua ma túy sử dụng, Lê Minh T8 Nguyễn Huy C8 tìm tài sản lấy trộm, được Cđồng ý. Nguyễn Huy C9 xe mô tô cho Lê Minh T9 khiển chở CKhoảng 12 giờ 00 ngày 26/8/2024, tại khu vực khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giangbị cáo Lê Minh T10 thấy có 01 ba lô màu đen (trên xe mô tô biển số 67L2 - 443.27) của Nguyễn Thanh V1 người trông giữ. Tđậu cách xe Việt khoảng 05 mét cảnh giới, C5 lút lấy trộm ba lô, bên trong có tổng tài sản trị giá 1.446.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Minh T11 Nguyễn Huy C10 tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đối với yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Minh T, Nguyễn Huy C2 Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Minh T11 Nguyễn Huy C11 nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, tài sản chiếm đoạt có trị giá 1.446.000 đồng; trước khi phạm tội các bị cáo Lê Minh T, Nguyễn Huy C2 đều có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản và đã có tiền án về hành vi cùng loại tội, chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội để xử phạt các bị cáo Lê Minh T5 (hai) năm tù, Nguyễn Huy C2 02 (hai) năm tù, là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà các bị cáo đã gây ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Minh TNguyễn H1 C, không xuất trình chứng cứ mới. Do đó, yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Minh TNguyễn H1 C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 80/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T, Nguyễn Huy C2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T5 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/8/2024).
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huy C2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/8/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: các bị cáo Lê Minh TNguyễn H1 C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 19/2025/HS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 19/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
