|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 3 - 2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Dung
Ông Đinh Thanh Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thủy– Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2025/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXX-ST ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mông Thị C, sinh năm 1989
- Bị đơn: Anh Ma Viết Đ, sinh năm 1987
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ hiện nay: Số B, đoạn C, đường Q, thị trấn T, huyện V, Đài Loan (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện đang ở Đài Loan (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Mông Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ma Viết Đ kết hôn ngày 17/02/2009 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên sau một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính cách của hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm trong cuộc sống. Đến năm 2014, anh chị cùng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan nhưng mỗi người làm việc ở một tỉnh, không chung sống cùng nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Hai vợ chồng nhiều lần nói chuyện, gia đình hai bên động viên, khuyên bảo mong hàn gắn tình cảm nhưng không thể giải quyết. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ma Viết Đ.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ma Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2010. Khi ly hôn chị C đề nghị giao con chung cho anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Linh trưởng T; trong khi anh Đ và chị đang sinh sống tại Đài Loan, chị đề nghị giao cháu L cho bố đẻ của anh Đ là ông Ma Viết C1, sinh năm 1967 tại thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên chăm sóc cháu L trong khi anh Đ ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh chị tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị C và anh Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản làm việc ngày 06/3/2025 giữa Tòa án và ông Ma Viết C1, sinh năm 1967 dưới sự chứng kiến của trưởng thôn Tỉn Keo, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xác định: Ông Ma Viết C1 là bố đẻ của anh Ma Viết Đ, hiện nay anh Đ đang làm việc ở Đài Loan, anh Đ vẫn liên lạc với ông C1 qua điện thoại nhưng ông không biết địa chỉ của anh Đ ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Anh Đ biết việc chị C xin ly hôn, anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung, anh chị có 01 con chung là Ma Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2010. Khi ly hôn anh đề nghị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi cháu Linh trưởng T; trong khi anh đang làm việc tại Đài Loan, anh đề nghị giao cháu L cho bố đẻ của anh là ông Ma Viết C1, sinh năm 1967 tại thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thay anh chăm sóc cháu L cho đến khi anh về nước.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đề nghị chị C cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Anh Đ xác định không có, không đề nghị xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh chị Mông Thị C, cho chị C được ly hôn với anh Ma Viết Đ. Về con chung, giao con chung là Ma Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2010 cho anh Ma Viết Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Ma Viết C1 là bố đẻ của anh Đ trực tiếp chăm sóc cháu Ma Thị Thùy L đến khi anh Đ trở về nước.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu L 2.000.000 đồng/ tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết. Chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Mông Thị C là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ hiện nay: Số B, đoạn C, đường Q, thị trấn T, huyện V, Đài Loan. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của chị C đều có chứng thực của Văn phòng K tại Đ, Đài Loan. Do vậy, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của chị C nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị C. Anh Ma Viết Đ là bị đơn có nơi thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ hiện nay ở Đài Loan. Theo công văn số 519/PQLNXC (Đ1) ngày 20/02/2025 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định lần gần nhất công dân Đức xuất cảnh ngày 02/8/2018 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Chị C và anh Đ đều đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị Mông Thị C và anh Ma Viết Đ trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, chị C xác định là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống xa cách nhau, không tìm được tiếng nói chung và không còn tình cảm vợ chồng. Chị C xin ly hôn, anh Đ đề nghị giải quyết theo quy định. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Mông Thị C và anh Ma Viết Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C, cho chị C được ly hôn với anh Ma Viết Đ là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
Về con chung: Chị Mông Thị C và anh Ma Viết Đ có 01 con chung là Ma Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2010, hiện đang ở cùng với bố đẻ của anh Đ. Chị C và anh Đ hiện nay đang làm việc tại Đài Loan và có quan điểm đề nghị giao con chung cho anh Đ nuôi dưỡng. Trong khi anh Đ đang làm việc tại Đài Loan, anh chị đều nhất trí ủy quyền cho ông Ma Viết C1 là bố đẻ của anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L. Ông C1 có ý kiến nhất trí tiếp tục chăm sóc cháu L cho đến khi anh Đ về nước, cháu L hiện nay đang sinh sống cùng ông C1 tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, cháu L có nguyện vọng ở với anh Đ. Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất của trẻ và sự ổn định cho con khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của anh Ma Viết Đ đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác, giao con chung cho ông Ma Viết C1 là bố đẻ của anh Đ trực tiếp chăm sóc cháu L cho đến khi anh Đ trở về Việt Nam là phù hợp với thực tế và phù hợp với nguyện vọng của con chung của chị C và anh Đ, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ đề nghị chị C cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy, Anh Đ1 là người trực tiếp nuôi con chung, do vậy chị C phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh Đ1 là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Chị C có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị C và anh Đ1 không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Án phí: Chị C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định
[4] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; 110; 116; 117; 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Mông Thị C đối với anh Ma Viết Đ
- Về hôn nhân: Cho chị Mông Thị C được ly hôn anh Ma Viết Đ
- Về con chung: Giao con chung là Ma Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2010 cho anh Ma Viết Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Trong thời gian anh Đ ở nước ngoài giao con chung cho ông Ma Viết C1 sinh năm 1966 địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là bố đẻ của anh Đ chăm sóc cháu L cho đến khi anh Đ trở về Việt Nam. Chị C có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mông Thị C phải cấp dưỡng nuôi con chung là Ma Thị Thùy L, sinh ngày 25/01/2010 cho anh Ma Viết Đ mỗi tháng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu. Toà án không xem xét.
- Án phí: Chị Mông Thị C phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con . Được trừ vào số tiền 300.000₫ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000245 ngày 10/01/2025 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
Chị Mông Thị C và anh Ma Viết Đ được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Hồng Phương |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C Đ
