Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-02-2025

V/v: Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Tấn Đồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Phẩm
  2. Ông Lê Thành Tam

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoài Bảo, là Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 297/2024/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST –HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hoàng Y, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú khóm E, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Trương Hoài B, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú khóm D, thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 12 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Hoàng Y trình bày: Vào năm 2022, bà và ông Trương Hoài B kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 24 tháng 7 năm 2023. Bà Y cho rằng sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng đến tháng 11 năm 2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không hòa giải được nên bà đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống và hai người đã ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Bà Y xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông B.

Về nuôi con chung bà Y xác định bà và ông B có 01 (một) người con chung tên Trương Mỹ C, sinh ngày 08/12/2023, hiện đang sống với bà Y. Khi ly hôn bà Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung và bà Y không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình bà Y đã cung cấp cho Tòa án Trích lục kết hôn số: 550/TLKH-BS, ngày 13 tháng 10 năm 2023 (bản sao) và 01 Giấy khai sinh mang tên Trương Mỹ C (bản sao).

Tại biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và biên bản hòa giải các ngày 17/01/2025; ngày 10/02/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Hoài B trình bày: Ông B xác định lời trình bày của bà Y về hôn nhân, con chung cũng như mâu thuẫn của vợ chồng là đúng sự thật. Tuy nhiên, ông B cho rằng mặc dù vợ chồng có mâu thuẫn nhưng do ông còn thương vợ, thương con nên ông không đồng ý ly hôn với bà Y.

Trường hợp buộc phải ly hôn thì ông đồng ý giao người con chung tên Trương Mỹ C cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự tranh chấp ly hôn, nuôi con là tranh chấp hôn nhân và gia đình; bị đơn ông B có nơi cư trú tại thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Vào năm 2022, bà Y và ông B kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long ngày 24 tháng 7 năm 2023. Vì vậy hôn nhân của bà Y và ông B là hợp pháp.

Xét; việc bà Y cho rằng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nhau và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khắc phục được. Mặc dù đã được gia đình hòa giải nhiều lần để cho hai người đoàn tụ chung sống với nhau nhưng không có kết quả. Hơn nữa, hiện nay bà Y xác định bà không còn tình cảm với ông B và hai người đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Y và ông B đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét việc bà Y yêu cầu được ly hôn với ông B là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 9, Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[2.2] Về nuôi con chung: Bà Y và ông B thoả thuận bà Y được quyền trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Trương Mỹ C, sinh ngày 08/12/2023 và ông B không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét sự thoả thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên chấp nhận.

[2.3] Về chia tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[2.4] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 9; 51; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Hoàng Y và ông Trương Hoài B.
  2. Về nuôi con chung: Giao người con chung Trương Mỹ C, sinh ngày 08/12/2023 cho bà Trần Thị Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng, ông Trương Hoài B không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Ông Trương Hoài B có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

  3. Về chia tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Trần Thị Hoàng Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006153 ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít, như vậy bà Trần Thị Hoàng Y không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hh án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Mang Thít;
  • - Chi cục THADS huyện Mang Thít;
  • - UBND thị trấn Cái Nhum;
  • - Đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trương Tấn Đồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho bị đơn ly hôn nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger