Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 - LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ - ST

Ngày 25/11/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành L

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Sầm Thị Minh Khuyên;

2. Bà Hoàng Thị Thanh Tâm.

-Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Na - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2025 Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2025/TLST - HNGĐ, ngày 08/10/2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXX ST- HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hà Bá T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh Hà Bá T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 12/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Y nay là UBND xã N, tỉnh Lào Cai. Sau kết hôn vợ chồng chung sống tại Thôn B, xã N, tỉnh Lào Cai, đến đầu năm 2013 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chị H cho rằng anh T uống rượu, chửi bới và đánh đập chị H nhiều lần. Mâu thuẫn đã được gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện tại chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh Hà Bá T.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Hà Minh Th sinh ngày d8/mm/20yy và Hà Văn Tr, sinh ngày 0d/mm/20yy. Sau ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi con chung Hà Minh Th, để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Văn Tr. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai anh Hà Bá T trình bày: Việc kết hôn đúng như chị H trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhưng đều là mâu thuẫn nhỏ. Anh T có uống rượu nhưng chỉ là những lúc giao lưu với anh em bạn bè về không đánh chửi vợ. Đến tháng 3 năm 2025 chị H đi làm ăn xa ở Hà Nội, anh T có nắm bắt được thông tin chị H có phát sinh tình cảm với người đàn ông khác, từ đó tình cảm vợ chồng rạn nứt. Anh chị ly thân từ tháng 3 năm 2025 đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Ngoài ra, do mẹ chị H và anh em bên gia đình chị H có tác động, xúi dục chị H ly hôn với anh T. Anh T xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Anh T cũng không đưa ra được biện pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng.

Về con chung đúng như chị H trình bày. Anh T có nguyện vọng nhận trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Văn Tr, để chị H có nguyện vọng nhận trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Minh Th. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại đơn nguyện vọng của con chung Hà Văn Tr có nguyện vọng muốn ở với bố Hà Bá T, đơn nguyện vọng của con chung Hà Minh Th có nguyện vọng muốn ở với mẹ Vũ Thị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lào Cai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị H: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Hà Bá T; về con chung: Giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Văn Tr sinh ngày 03/10/2012, chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Minh Th sinh ngày d8/mm/20yy. Hai bên không ai cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết; về án phí nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Hà Bá T đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn B, xã N, tỉnh Lào Cai nên vụ án do Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lào Cai thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, theo quy định của pháp luật, tại phiên tòa chị H và anh T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị Vũ Thị H và anh Hà Bá T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Hà Bá T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký ngày 12/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thuận, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái nay là UBND xã N, tỉnh Lào Cai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống chị H cho rằng vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T uống rượu, chửi bới và đánh đập chị H nhiều lần. Chị H xác định hiện tại không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên đề nghị được ly hôn. Anh T cho rằng gia đình có mâu thuẫn nhỏ, anh nghi ngờ chị H có tình cảm với người đàn ông khác, không còn quan tâm đến chồng con. Anh T không đồng ý ly hôn với chị H, mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng anh không đưa ra được biện pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau và đã có thời gian dài sống ly thân thể hiện tình nghĩa vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do vậy yêu cầu xin ly hôn của chị H phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Hà Minh Th sinh ngày d8/mm/20yy và Hà Văn Tr, sinh ngày 0d/mm/20yy. Sau ly hôn chị H và anh T có nguyện vọng để chị H trực tiếp nuôi con chung Hà Minh Th, để anh T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Văn Tr. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng nên giao con chung Hà Văn Tr cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Hà Minh Th cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của chị H, anh T và các con chung, phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn 300.000 đồng.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Hà Bá T.
  2. Về con chung: Giao cho anh Hà Bá T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Văn Tr sinh ngày 0d/mm/20yy, giao cho chị Vũ Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Minh Th, sinh ngày dd/0m/20yy. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai ký hiệu BLTU/25E số 0001096 ngày 08/10/2025 của thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai, chị H đã nộp đủ án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H và anh Hà Bá T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, Hùng yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND khu vực 4, tỉnh Lào Cai;
  • - Phòng THADS khu vực 4, tỉnh Lào Cai;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã N (số ĐKKH 54/2011 xã B cũ)
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thành Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ - ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. - Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Hà Bá T. 2. Về con chung: Giao cho anh Hà Bá T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hà Văn Tr sinh ngày 0d/mm/20yy, giao cho chị Vũ Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hà Minh Th, sinh ngày dd/0m/20yy. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai ký hiệu BLTU/25E số 0001096 ngày 08/10/2025 của thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai, chị H đã nộp đủ án phí. 4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị H và anh Hà Bá T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger