|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25/11/2025 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vi Văn Dương
Ông Vang Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 11- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Võ Trọng Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11- Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 30/2025/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Hữu H, sinh năm 1974 (Có đơn xét xử vắng mặt) Trú tại: Xóm B Thị trấn, xã Đ, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Chị Ốc Thị P, sinh năm 1981 (Có đơn xét xử vắng mặt) Trú tại: Bản N, xã Y, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành án tại đội 38, K, trại giam S, xã T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 16/9/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án anh Trần Hữu H trình bày:
Về tình cảm: Anh Trần Hữu H và chị Ốc Thị P tìm hiểu nhau được một thời gian thì kết hôn vào năm 2003. Anh H và chị P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An (nay là xã Y, tỉnh Nghệ An) vào ngày 28 tháng 10 năm 2003 trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, trong cuộc sống vợ chồng cũng có cãi vã, xúc phạm nhau nhưng vì con cả hai bên đều cố gắng chung sống hoà thuận. Tuy nhiên đến năm 2020 thì chị P bị bắt về tội Mua bán người và bị Toà án xử phạt 11 năm tù, hiện đang chấp hành án tại trại giam S, Bộ C2, từ khi chị P đi chấp hành án thì vợ chồng cũng sống xa nhau, một mình anh H chăm sóc 03 đứa con nhỏ, vợ chồng sống xa nhau lâu dần tình cảm vợ chồng không còn. Nay tình cảm vợ chồng đã cạn kiệt anh H có nguyện vọng ly hôn để ổn định cuộc sống và công việc.
Về con chung: Anh H và chị P có 03 con chung là cháu Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 30/7/2004, cháu Ốc Hữu T, sinh ngày 11/9/2007 và cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 hiện cháu đang sống cùng anh H tại xóm B Thị Trấn, xã Đ, tỉnh Nghệ An. Chị P hiện nay đang đi chấp hành án, khi chị P đi chấp hành án thì cháu P1 mới được 05 tuổi, một mình anh H chăm sóc con nhỏ, cháu hiện nay sinh sống ổn định với anh H, chị P đi chấp hành án 11 năm nên chị P không có khả năng để nuôi con, nếu ly hôn đặt ra anh H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 cho đến khi cháu trưởng thành, về cấp dưỡng anh H không yêu cầu chị P cấp dưỡng tiền nuôi con. Còn cháu Trần Thị Quỳnh A và cháu Ốc Hữu T hiện cháu đang học đại học và đã trưởng thành, không bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị P có 01 ngôi nhà tại xã Y, tỉnh Nghệ An, nhà đó anh H để lại cho chị P sau khi chị P chấp hành án trở về địa phương. Nên phần tài sản chung, nợ chung anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2025 anh Trần Hữu H khai: Anh H và chị P khi sinh cháu đầu tiên thì đặt tên là Trần Thị Quỳnh A, sinh ngày 30/7/2004, cháu mang họ của anh H, nhưng để thuận lợi cho việc học tập của cháu thì anh H và chị P thống nhất đổi họ cho cháu mang họ Ốc của chị P, nên hiện nay cháu Trần Thị Quỳnh A mang họ chị Ốc Thị P, có tên đầy đủ là Ốc Thị Quỳnh A1.
Tại bản tự khai ngày 12/10/2025 chị Ốc Thị P trình bày:
Về tình cảm: Chị Ốc Thị P và anh Trần Hữu H kết hôn vào ngày 10/3/2003, có đăng ký kết hôn vào ngày 10/3/2003. Nguyên nhân vì chị P đang đi chấp hành án. Hiện nay anh Trần Hữu H yêu cầu giải quyết ly hôn thì chị P đồng ý.
Về con chung: Chị Ốc Thị P và anh Trần Hữu H có 03 người con chung là cháu Ốc Thị Quỳnh A1, sinh ngày 30/7/2004, cháu Ốc Hữu T, sinh ngày 11/9/2007 và cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 hiện các cháu sống với anh H tại khối B, thị trấn Đ, tỉnh Nghệ An (nay là xóm B Thị trấn, xã Đ, tỉnh Nghệ An). Đối với hai cháu Ốc Thị Quỳnh A1, cháu Ốc Hữu T hiện nay đã trưởng thành chị P không có ý kiến gì thêm. Còn đối với cháu Ốc Hữu Hoàng P1 thì chị Phòng K đồng ý để cho anh H nuôi dưỡng, nguyện vọng của chị P là đưa cháu lên ở cùng bà ngoại bà Vi Thị C – bản N, xã Y để trực tiếp nuôi dưỡng và học tập.
Về tài sản chung có 01 căn nhà tại bản N, xã Y, tỉnh Nghệ An. Chị P đồng ý với ý kiến của anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có.
Kết quả xác minh tại địa phương thì chị Ốc Thị P có hộ khẩu thường trú tại bản N, xã Y, tỉnh Nghệ An có chồng là anh Trần Hữu H và có 03 con chung là cháu Ốc Thị Quỳnh A1, sinh ngày 30/7/2004, cháu Ốc Hữu T, sinh ngày 11/9/2007 và cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015. Chị Ốc Thị P hiện đang chấp hành án phạt tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Nghệ An tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn: Đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn anh Trần Hữu H cụ thể như sau: Quan hệ hôn nhân cho anh Trần Hữu H được ly hôn với chị Ốc Thị P; Con C1: giao cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 cho anh Trần Hữu H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị P; cháu Ốc Thị Quỳnh A1, sinh ngày 30/7/2004, cháu Ốc Hữu T, sinh ngày 11/9/2007 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị Phòng K yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; Án phí: Anh Trần Hữu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng và các lời khai của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chị Ốc Thị P có đăng ký thường trú tại bản N, xã Y, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn anh Trần Hữu H và bị đơn chị Ốc Thị P thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân nhân dân khu vực 11 - Nghệ An. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Quan hệ hôn nhân: Anh H và chị P kết hôn với nhau vào năm 2003 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc và được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An (Nay là xã Y, tỉnh Nghệ An) cấp giấy chứng nhận kết hôn tại số 14 ngày 28/10/2003 vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[3] Nội dung:
[3.1] Tình cảm: Anh H và chị P có nhiều mâu thuẫn, chị P đi chấp hành án tại đội 38, K, trại giam S, xã T, tỉnh Nghệ An, vợ chồng hiện đã sống ly thân nhau từ khi chị P đi chấp hành án. Anh H cũng thừa nhận, anh không còn tình cảm với chị P, không muốn tiếp tục chung sống với chị P và muốn được ly hôn để ổn định cuộc sống, hôn nhân không đạt được mục đích, mâu thuẫn phát sinh từ lâu nhưng cả hai không tìm ra được giải pháp khắc phục, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của anh H và chị P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh H là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3.2] Con chung: Anh H và chị P có 03 con chung là cháu Ốc Thị Quỳnh A1, sinh ngày 30/7/2004 và cháu Ốc Hữu T, sinh ngày 11/9/2007 hiện các cháu đã trưởng thành không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự; cháu thứ 3 cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 và anh H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ốc Hữu Hoàng P1 cho đến khi cháu trưởng thành, anh H không yêu cầu chị P cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị P có nguyện vọng giao cháu cho bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu Ốc Hữu Hoàng Phát hiện N đang sinh sống với anh H và anh H là người trực tiếp chăm, sóc nuôi dưỡng cháu hàng ngày, hiện chị Ốc Thị P đang phải chấp hành án tại Trại giam số 6, mặt khác cháu P1 có có nguyện vọng được sống với anh H. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao cháu Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 cho anh Trần Hữu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị P. Chị P được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở chị P thực hiện quyền này.
[3.3] Tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Hữu H và chị Ốc Thị Phòng K yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, và Điều 58, Điều 78, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử:
- Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Hữu H được ly hôn với chị Ốc Thị P.
- Con chung:
- + Giao con chung của nguyên đơn và bị đơn là Ốc Hữu Hoàng P1, sinh ngày 20/5/2015 cho anh Trần Hữu H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- - Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với chị P;
- - Chị P có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- - Chị Ốc Thị Quỳnh A1, sinh ngày 30/7/2004 và anh Ốc Hữu T, sinh ngày 11/9/2007 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung, nợ chung: Anh H và chị Phòng K yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí: Buộc anh Trần Hữu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000727 ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lương Thị Ái |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
