Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 25 – 3 – 2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hường
  2. Ông Phạm Ngọc Minh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đồng Mây Hồng Tuyên – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 260/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/02/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 07/3/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bá Thị Kim P, sinh năm 1994. (có mặt)
  2. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Bị đơn: Ông Bá Đại Ka Z, sinh năm 1993. (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/8/2024 cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Bá Thị Kim P trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Bá Đại Ka Z chung sống với nhau tự nguyện từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện N năm 2017. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại khu phố A, thị trấn P, huyện N. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông Z không quan tâm vợ con, gia đình. Hiện vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 đến nay, ông Z bỏ về nhà tại P, xã P sống, không quan tâm thăm hỏi nhau. Nay tình cảm của bà với ông Z không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Z.

Về con chung: Vợ chồng có một người con chung là cháu Bá Hoàng Bạch K, sinh 14/4/2020 hiện đang sống với bà, bà yêu cầu tiếp tục được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Z cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết bị đơn ông Bá Đại Ka Z vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Nên ông Z không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Bá Thị Kim P, bà P được ly hôn ông Z. Về con chung: Giao con chung Bá Hoàng Bạch K, sinh 14/4/2020 cho bà Bá Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Z không phải cấp dưỡng nuôi con do bà P không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Bá Thị Kim P khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung với ông Bá Đại Ka Z, trú tại thôn P, xã P, huyện N. Vì vậy, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Đối với bị đơn là ông Bá Đại Ka Z trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên họp, hòa giải đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông Z cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Z theo quy định của pháp luật.

[2] Nội dung khởi kiện:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bá Thị Kim P và ông Bá Đại Ka Z chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện N năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do không phù hợp về quan điểm sống, ông Z bỏ mặc không quan tâm đến vợ con, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau (được chính quyền địa phương xác nhận). Mặt khác, ông Z đã được thông báo và biết được việc khởi kiện cũng như các nội dung yêu cầu của bà P, nhưng ông Z vẫn cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày tại Tòa án, từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Chứng tỏ ông Z không còn quan tâm, không muốn hàn gắn lại tình cảm với bà P làm cho hôn nhân vợ chồng lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà P đề nghị được ly hôn với ông Z là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Bá Thị Kim P và ông Bá Đại Ka Z có một người con chung là cháu Bá Hoàng Bạch K, sinh 14/4/2020 hiện đang sống với bà P. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông Z vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu về con chung của bà P, mặt khác cháu K đang sống với bà P và được bà P chăm sóc tốt. Vì vậy, cần giao cháu K cho bà P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Z không phải cấp dưỡng nuôi con do bà P không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Vì vậy cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của bà P.

[3] Về án phí: Bà P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bá Thị Kim P.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Bá Thị Kim P được ly hôn với ông Bá Đại Ka Z.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Bá Hoàng Bạch K, sinh 14/4/2020 cho bà Bá Thị Kim P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Bá Đại Ka Z không phải cấp dưỡng nuôi con do bà P không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bá Thị Kim P phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004575, ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước. Bà P đã nộp đủ án phí DSST.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/3/2025), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - UBND TT Phước Dân;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Lê Thị Hường Phạm Ngọc Minh Vũ Văn C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà P yêu cầu ly hôn ông Z
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger