|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 02 - 2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và bà Nguyễn Thị Xuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 439/2024/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Giang Ngọc D, sinh năm 1981.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn M, sinh năm 1982.
Cùng nơi cư trú: Tổ C, Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 26/8/2024 và lời khai trong thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, nguyên đơn bà Giang Ngọc D trình bày:
Bà và ông Phạm Văn M sống chung với nhau từ năm 2001, đến năm 2005, bà và ông M tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống nhưng không hòa hợp, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do ông M không phụ giúp công việc gia đình, không tôn trọng và coi thường bà. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2024 cho đến nay. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn M.
Về con và cấp dưỡng nuôi con: Bà và ông M có 03 (ba) con chung là Phạm Quang T, sinh năm 2002, Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 09/09/2007 và Phạm Lam G, sinh ngày 19/12/2020. Khi ly hôn, đối với cháu T đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu tòa án giải quyết, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và đồng ý giao cháu G cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà và ông M không có nợ của cá nhân, tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại Bản tự khai và Đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đề nghị vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và xét xử vắng mặt ghi ngày 05/02/2025, bị đơn ông Phạm Văn M trình bày:
Ông đồng ý ly hôn với bà Giang Ngọc D. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Phạm Lam G và đồng ý giao cháu Phạm Thị Hồng T1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng và ông không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng trình tự tố tụng theo quy định đối với một phiên tòa sơ thẩm.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Căn cứ: Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; 85, 89 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn: Cho bà Giang Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Văn M; về con chung: Giao cháu Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 09/09/2007 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Phạm Lam G, sinh ngày 19/12/2020 cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng; các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: Nguyên đơn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Xác định thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn M cư trú tại Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
[1.2] Xác định quan hệ pháp luật: Bà D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông M và được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Vì vậy, quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Xác định tư cách đương sự: Bà D khởi kiện đối với ông M. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định bà D là nguyên đơn, ông M là bị đơn trong vụ án.
[1.4] Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhận thấy:
[2.1] Về hôn nhân: Các đương sự tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp, khi bà D yêu cầu ly hôn thì Tòa án căn cứ Luật hôn nhân gia đình để giải quyết.
Trên cơ sở lời khai của đương sự và tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình tiến hành tố tụng thể hiện: Sau khi kết hôn, các đương sự có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với nhau và do bất đồng quan điểm; các đương sự sống không hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 7/2024 cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, ông M cũng đồng ý ly hôn với bà D. Tuy nhiên, do các đương sự vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án không ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa các đương sự.
Từ những đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ giữa vợ và chồng; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không được liên tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự có 03 (ba) con chung là Phạm Quang T, sinh năm 2002, Phạm Thị Hồng T1, sinh ngày 09/09/2007 và Phạm Lam G, sinh ngày 19/12/2020. Khi ly hôn, bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và đồng ý giao cháu G cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của bà D cũng được ông M đồng ý chấp nhận. Vì vậy, giao cháu T1 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu G cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng là có cơ sở, đúng pháp luật. Các đương sự không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Các đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 235, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- - Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
- - Điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Giang Ngọc D.
- Về hôn nhân: Bà Giang Ngọc D được ly hôn với ông Phạm Văn M.
- Về con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Phạm Thị Hồng T1 cho bà Giang Ngọc D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Phạm Phạm Lam G cho ông Phạm Văn M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Các đương sự không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con nên tòa án không giải quyết.
Bà Giang Ngọc D và ông Phạm Văn M có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung bà Giang Ngọc D và ông Phạm Văn M có quyền khởi kiện về việc thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Bà Giang Ngọc D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai thu số 0013468 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà Giang Ngọc D đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của luật.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Tuân |
4
5
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Nam
6
7
8
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà và ông M tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống nhưng không hòa hợp, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do ông M không phụ giúp công việc gia đình, không tôn trọng và coi thường bà. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 7/2024 cho đến nay. Hiện nay, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Văn M.
