TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày : 23/01/2025
V/v : “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Gia Lương
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Ngô Văn Bê
2.Bà Lê Thị Minh Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 23/01/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/11/2024 về “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 278/2024/QĐXX-ST ngày 22/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 221/2024/QĐ-ST ngày 23/12/2024 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Chị Thân Thị V, sinh năm: 1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai ngày 01/10/2024 nguyên đơn anh Nguyễn Bá T trình bày:
Về hôn nhân:
Anh và chị Thân Thị V kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 11/02/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn. Đến đầu năm 2020 thì chị V đi nước ngoài lao động. Thời gian đầu chị V đi nước ngoài thì vợ chồng vẫn liên lạc với nhau, sau đó vợ chồng mỗi người sống một nơi không gần nhau dẫn đến xảy ra nhiều mâu thuẫn không tìm được tiếng nói chung. Đến năm 2021 thì vợ chồng chấm dứt mọi quan hệ tình cảm và kinh tế, vợ chồng không còn quan tâm và liên lạc gì với nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho anh được ly hôn với chị Thân Thị V.
Về con chung:
không có không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung:
không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Do tính chất công việc nên anh không tham gia được các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình giữa anh và chị V được, anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử vụ án giữa anh và chị V.
Bị đơn chị Thân Thị V hiện đang lao động tại nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị V, đến nay Tòa án không nhận được thông tin của chị V.
+Tòa án đã tiến hành làm việc với bà Hoàng Thị G là mẹ đẻ của chị Thân Thị V, bà Gia trình bày: Bà là mẹ đẻ của chị Thân Thị V, chị V hiện nay không có mặt tại địa phương, chị V hiện đang làm việc tại Đài Loan. Chị V ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho bà qua điện thoại. Về địa chỉ của chị V ở nước ngoài thì bà không được biết nên không cung cấp cho Tòa án án được. Anh T có đơn xin ly hôn với chị V thì quan điểm của chị V là đồng ý ly hôn với anh T.
Về con chung:
Không có.
Về tài sản chung, công nợ chung:
không có .
Tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Bá T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Thân Thị V vắng mặt không có lý do.
Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của anh T; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của chị V là bà Hoàng Thị G và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn anh Nguyễn Bá T có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chị Thân Thị V không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với chị V; Căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt chị V là đúng.
-Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 51, 53, 56; khoản 2 điều 123; điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28; khoản 3 điều 35; điểm c khoản 1 điều 37; khoản 4 điều 147; điều 271; điều 273; điều 150 BLTTDS; khoản 2 điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Bá T.
Về hôn nhân: cho anh Nguyễn Bá T được ly hôn chị Thân Thị V.
Anh Nguyễn Bá T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Bá T là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt anh T.
Đối với bị đơn chị Thân Thị V vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị V là bà Hoàng Thị G để giao thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu bà Gia thông báo cho chị V biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Nguyễn Bá T và chị Hoàng Thị G; Yêu cầu chị V viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; Yêu cầu bà Gia cung cấp địa chỉ cụ thể của chị V ở nước ngoài. Bà Hoàng Thị G trình bày: chị V ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho bà. Tuy nhiên, bà Gia vẫn không cung cấp địa chỉ, tin tức của chị V cho Tòa án. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào Điều 10 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn chị Thân Thị V theo thủ tục chung.
[2].Về thẩm quyền: anh Nguyễn Bá T là nguyên đơn có đơn xin ly hôn chị Thân Thị V, chị V hiện đang lao động tại nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ (theo Công văn số 3505/QLXNC ngày 30/10/2024 của Phòng Q-Công an tỉnh B), thì chị V đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 28/8/2024 hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại, địa chỉ cuối cùng của chị V ở Việt Nam là: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Bá T và chị Thân Thị V kết hôn ngày 11/02/2019 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh T đề nghị được ly hôn với chị V.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Bá T. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi tổ chức lễ cưới thì anh chị về chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn do mỗi người ở một nơi anh T thì ở trong nước còn chị V thì đi nước ngoài lao động nên vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, đến năm 2021 thì vợ chồng đã chấm dứt mọi quan hệ tình cảm và kinh tế và không còn quan tâm liên lạc gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị V đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Bá T. Xử cho anh Nguyễn Bá T được ly hôn với chị Thân Thị V.
[4]. Về con chung: Vợ chồng anh T và chị V không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5].Về tài sản, công nợ: anh Nguyễn Bá T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: anh Nguyễn Bá T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 1 và khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; Điều 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1.Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Bá T được ly hôn với chị Thân Thị V.
2.Về án phí: anh Nguyễn Bá T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000166 ngày 11/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Bá T đã nộp đủ.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Bá T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Chị Thân Thị V hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Gia Lương |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Gia Lương |
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 01 năm 2025.
Tại trụ sở TAND tỉnh Bắc Giang.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia L
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn B
Bà Lê Thị Minh K
Tiến hành nghị án vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 298/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/11/2024 về việc “Ly hôn”. Giữa:
*Nguyên đơn: Anh Nguyễn Bá T, sinh năm 1986
Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Chị Thân Thị V, sinh năm: 1987
Nơi thường trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài).
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; khoản 3 điều 153; Điều 271; Điều 273; khoản 1 và khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27; Điều 44 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
1.Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Bá T được ly hôn với chị Thân Thị V.
2.Về án phí: anh Nguyễn Bá T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000166 ngày 11/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Nguyễn Bá T đã nộp đủ.
3. Về quyền kháng cáo bản án: Anh Nguyễn Bá T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Chị Thân Thị V hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Biểu quyết 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 23 tháng 01 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Gia Lương |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ T - V ly hôn
