|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/02/2025 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phi Hùng;
- Ông Lê Anh Việt;
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bạch Nhạn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2024/TLST- HNGĐ, ngày 05/11/2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 07/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QÐST – HN ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Bé H, năm 1968;
- Bị đơn: Ông Ngô Văn S, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Trương Thị Bé H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: bà H và ông S có quen biết nhau vào năm 1992, được mai mối, sau vài tháng tìm hiểu thì quyết định đi đến hôn nhân, ông bà có tổ chức cưới nhưng không có đăng ký kết hôn, do không am hiểu pháp luật, chỉ nghĩ nếu vợ chồng chung sống với nhau thì chỉ cần tổ chức đám cưới. Sau khi chung sống với nhau, ban đầu vợ chồng cũng không hạnh phúc do ông S thường ăn chơi, thường đi nhậu với bạn bè không lo gì cho vợ con, dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đỉnh điểm vào năm 2002, ông S có đánh bà H, nên bà H dẫn hai con bỏ nhà đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, và bà và ông S ly hôn từ năm 2002 cho đến nay. Nay do không còn tình cảm ông S, nên bà Trương Thị Bé H yêu cầu ly hôn với ông Ngô Văn S (Không công nhận quan hệ vợ chồng).
- Về con chung: Có hai con chung tên Ngô Thanh L, sinh năm 1993 và Ngô Thanh T, sinh năm 1995, hiện các con đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: bà Trương Thị Bé H trình bày không có, không yêu cầu toà án giải quyết.
Bị đơn ông Ngô Văn S đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng ông S vẫn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: thẩm phán đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách của người tham gia tố tụng, thu thập đầy đủ chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, về thời gian nhận, xử lý đơn kiện và thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng theo quy định.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên toà Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không đến phiên tòa là chưa chấp hành theo điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thị Bé H và ông Ngô Văn S. Về con chung: hai con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, bà H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về nợ chung, tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Trương Thị Bé H và ông Ngô Văn S là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về không công nhận quan hệ vợ chồng qui định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. ông S đang cư trú tại xã A, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ông Ngô Văn S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tuy nhiên ông S vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, tiến hành xét xử vắng mặt ông S.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Thị Bé H và ông Ngô Văn S chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 không có đăng ký kết hôn.
Tại Khoản 1 điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 qui định:
“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”
Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 qui định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng...”
Xét thấy, bà H và ông S là người có đủ điều kiện kết hôn theo qui định pháp luật, trong quá trình chung sống anh chị phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp. Tuy nhiên, bà H và ông S đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị không có giá trị về mặt pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Bên cạnh đó, trong thời gian chung sống giữa bà H và ông S phát sinh nhiều mâu thuẩn, do ông S thường đi nhậu không lo cho gia đình, đến năm 2002 ông S có đánh bà H, nên bà H và ông S ly thân từ năm 2002 cho đến nay, hiện nay không còn tình cảm nên bà H xin ly hôn với ông S là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 điều 14 và khoản 2 điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thị Bé H và ông Ngô Văn S.
[3] Về con chung: bà H và ông S có hai con chung tên Ngô Thanh L, sinh năm 1993 và Ngô Thanh T, sinh năm 1995, hiện các con đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà Trương Thị Bé H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về thủ tục tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như đã phân tích trên là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội, bà Trương Thị Bé H chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/TBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trương Thị Bé H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thị Bé H và ông Ngô Văn S.
2. Về con chung: có hai con chung tên Ngô Thanh L, sinh năm 1993 và Ngô Thanh T, sinh năm 1995, hiện các con đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, bà H không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung, nợ chung: bà Trương Thị Bé H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét
4. Về án phí: bà Trương Thị Bé H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà H đã nộp ngày 05/11/2024 theo biên lai số 0013723 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành được chuyển thành án phí bà H phải nộp.
5. Nguyên đơn bà Trương Thị Bé H và bị đơn ông Ngô Văn S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Lâm Hoàng Huynh |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
