TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06 – 02 – 2025
“V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
- - Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh
- Ông Nguyễn Tất Thể
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 171/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 173/2024/QĐXX-ST ngày 17 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐ-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Hồ Xuân T1, sinh năm 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Tô Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị T và anh Hồ Xuân T1 đăng ký kết hôn ngày 22/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về nước. Năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, sống xa nhau nên thường xuyên nghi ngờ, thiếu tin tưởng, quan tâm lẫn nhau nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Hiện tại hai vợ chồng không còn liên lạc với nhau, chị T xác định không còn tình cảm với anh T1 nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Hồ Xuân Tuấn D, sinh ngày 29/11/2013 và Hồ Xuân Tuấn P, sinh ngày 04/01/2016. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị T trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 tại Đài Loan và đề nghị Tòa án thu thập địa chỉ của anh T1 qua gia đình anh.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Hồ Xuân T1 cư trú trước khi xuất cảnh và làm việc với anh trai là Hồ Minh T2 (Trú tại: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh); Anh T2 cung cấp thông tin như sau:
Anh Hồ Xuân T1 hiện đang đi lao động tại Đài Loan. Anh T1 có liên lạc với gia đình nhưng không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho Tòa án được. Việc chị T xin ly hôn gia đình đã thông báo cho anh T1 nhưng anh không có ý kiến gì. Gia đình không có ý kiến gì về việc chị T xin ly hôn anh T1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 10, điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị T
Về tình cảm: Cho chị Tô Thị T được ly hôn anh Hồ Xuân T1
Về con chung: Giao con chung là Hồ Xuân Tuấn D, sinh ngày 29/11/2013 và Hồ Xuân Tuấn P, sinh ngày 04/01/2016 cho chị Tô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh T1 không phải nộp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Hồ Xuân T1 đang sống và làm việc tại Đài Loan, không có địa chỉ cụ thể. Tuy nhiên, Tòa án xác minh thông qua gia đình xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh P1 ở Việt Nam là Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Theo công văn số 1088/QLXNC- Đ1 ngày 21/10/2024 của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh Công An tỉnh H thì anh Hồ Xuân T1 đã xuất cảnh lần cuối ngày 23/6/2015, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung là đúng theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Gia đình anh Hồ Xuân T1 cho biết anh T1 vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh T1 không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh T1 tại Đài Loan và không gửi ý kiến về vụ án. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các vụ án có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài thì đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã đăng thông báo về việc giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình cho anh T1 trên kênh V và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết chị T có mặt nhưng vì lý do công việc đi làm ăn xa nên không thể tham gia phiên tòa được và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị T và anh T1 theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung
[2.1] Quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị T và anh Hồ Xuân T1 đăng ký kết hôn ngày 22/02/2013 tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Việc kết hôn giữa chị T và anh T1 thực hiện đúng theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng từ năm 2022, tình cảm vợ chồng bắt đầu rạn nứt, vợ chồng không còn hoà hợp, không còn tiếng nói chung. Vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm đến nhau. Hiện tại, chị T thấy không còn tình cảm với anh T1, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài nên mong muốn được ly hôn. Anh T1 mặc dù biết việc chị T xin ly hôn nhưng không có ý kiến gì.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa Chị Tô Thị T và anh Hồ Xuân T1 không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tô Thị T.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hồ Xuân Tuấn D, sinh ngày 29/11/2013 và Hồ Xuân Tuấn P, sinh ngày 04/01/2016. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án anh T1 không có ý kiến gì nhưng xét hoàn cảnh anh T1 không ở Việt Nam nên để đảm bảo sự ổn định về môi trường sống của con thì cần chấp nhận yêu cầu giao các con chung cho chị T chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn không có ý kiến gì nên Tòa án không xem xét giải quyết. Khi nào anh T1 về Việt Nam và có yêu cầu giải quyết về tài sản thì sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí: Chị Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123, 127 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 273, 464, 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Công văn số 253/TANDTC - PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị T
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tô Thị T ly hôn anh Hồ Xuân T1.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Hồ Xuân Tuấn D, sinh ngày 29/11/2013 và Hồ Xuân Tuấn P, sinh ngày 04/01/2016 cho chị Tô Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hồ Xuân T1 được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Tô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị B đã nộp tại biên lai số 0000073 ngày 04/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
4.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tô Thị T yêu cầu ly hôn với anh Hồ Xuân T1
