|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-6-2025 V/v tranh chấp về ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ;
Ông Phạm Tấn Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quế Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Thị Hưng H năm 1977; cư trú tại: ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn H1 năm 1977; hộ khẩu thường trú: ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; cư trú tại: Nhà T, ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 05 tháng 3 năm 2025, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H trình bày:
Về hôn nhân: bà H3 ông Trần Văn H4 sống với nhau năm 2006, không tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn ngày 12 tháng 8 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Bình Dương hôn nhân tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông H1 thường xuyên uống rượu về gây sự đánh mắng bà H5 H1 còn cờ bạc, nợ nần, bà H6 trả nợ cho ông H1 nhiều lần; vợ chồng không còn tiếng nói chung. Bà H và ông H1 đã ly thân khoảng 03 năm nay, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà H8 cầu ly hôn ông H9
Về nuôi con chung, bà H3 ông H1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung, bà H không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Văn H9 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa nhưng ông H9 đều vắng mặt không lý do. Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H9.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án: quá trình giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn; bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng bị đơn vắng mặt, cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ chứng minh. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận, cho bà H10 ly hôn với ông H9.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng nhận định:
- Về tố tụng: bị đơn ông H9 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H9.
- Về yêu cầu của nguyên đơn:
Về hôn nhân: hôn nhân của bà H3 ông H9 là hôn nhân hợp pháp. Bà H khai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn năm 2022, nguyên nhân do ông H1 thường xuyên uống rượu về gây sự đánh mắng bà H5 H1 còn cờ bạc, nợ nần, vợ chồng không có tiếng nói chung. Bà H3 ông H1 đã ly thân khoảng 03 năm nay. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông H9 theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét thấy, bà H3 ông H9 là vợ chồng nhưng không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và không sống chung với nhau là không giữ gìn tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Ông H9 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H1 bỏ mặc không tham gia tố tụng, không trình bày ý kiến tại Tòa đối với yêu cầu ly hôn của bà H11 Nhận thấy hôn nhân của bà H3 ông H9 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà H3 ông H9 ly hôn.
Về nuôi con chung, bà H3 ông H1 không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản và nợ chung, bà H3 ông H9 không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
- Về án phí: bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H đối với ông Trần Văn H9 về việc tranh chấp về ly hôn.
Về hôn nhân: cho bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H ly hôn với ông Trần Văn H9.
Về nuôi con chung: bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H và ông Trần Văn H12 có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản và nợ chung: bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H và ông Trần Văn H9 không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H đã nộp theo biên lai số 0006243 ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Bà Nguyễn Hoàng Thị H2 H đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Kim Xuyến |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Hoàng Thị Hưng H và ông Trần Minh H1
