Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-3-2025

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Đắc Đương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Dình

Bà Diệp Huyền Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Thạch Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Long T, sinh năm 1972, địa chỉ số A, khóm B, phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Trần Ngọc H, sinh năm 1969, quốc tịch: Việt Nam. Địa chỉ: A - VAN Bu Midway City CA 92655 - USA (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 4 năm 2024 và bản khai trong quá trình giải quyết vụ kiện nguyên đơn ông Nguyễn Long T trình bày: Ông và bà Trần Ngọc H sống chung với nhau năm 2023 có đăng ký kết hôn vào ngày 29/6/2023 tại Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Sau đám cưới được vài ngày bà Trần Ngọc H quay lại Mỹ và không còn liên lạc với ông, không về Việt Nam thăm ông lần nào. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng không có con chung, không phát sinh tài sản chung và nợ chung.

Nay ông Nguyễn Long T yêu cầu xin ly hôn với bà Trần Ngọc H, vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bà Trần Ngọc H, sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh có tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt thông báo thụ lý vụ án và tống đạt văn bản hỏi đáp cho bà Trần Ngọc H biết được thông tin và trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Long T. Bà Trần Ngọc H nhận được những văn bản tố tụng của Tòa án gửi nhưng bà Trần Ngọc H không có văn bản phúc đáp và cũng không có mặt tại phiên tòa để trình bày ý kiến của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, đối với bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ kiện: Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa ông Nguyễn Long T và bà Trần Ngọc H từ khi xác lập quan hệ vợ chồng đến nay không có quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên ông Nguyễn Long T yêu cầu ly hôn với bà Trần Ngọc H là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Long T được ly hôn với bà Trần Ngọc H. Về con chung, tài sản chung và nợ chung ông Nguyễn Long T khai là không có nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Ngày 20 tháng 8 năm 2024 ông Nguyễn Long T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã tiến hành thủ tục tống đạt thông báo thời gian mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, thời gian hòa giải và thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án cho bà Trần Ngọc H. Xét thấy bà Trần Ngọc H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do và việc ông Nguyễn Long T làm đơn xin xét xử vắng mặt là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ vào Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Long T và bà Trần Ngọc H.

    Ông Nguyễn Long T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với bà Trần Ngọc H, bà Trần Ngọc H là người nước ngoài hiện tại đang định cư tại USA. Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 và khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân tỉnh nơi nguyên đơn cư trú. Ông Nguyễn Long T hiện đang cư trú tại tỉnh Trà Vinh, như vậy Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

  2. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Long T và bà Trần Ngọc H kết hôn với nhau vào ngày 19 tháng 11 năm 2016 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, do đó hôn nhân giữa ông Nguyễn Long T và bà Trần Ngọc H là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trong thời kỳ hôn nhân ông Nguyễn Long T và bà Trần Ngọc H mỗi người ở một quốc gia khác nhau, hai người không có điều kiện để chăm sóc cho nhau, xây dựng gia đình hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Long T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
  3. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Long T trình bày về con chung, tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí và chi phí tố tụng:

    Về án phí: Ông Nguyễn Long T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

    Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Long T phải chịu 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, về chi phí gửi qua dịch vụ bưu chính ông Nguyễn Long T đã trực tiếp chi trả cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính nên ông T không phải nộp tiếp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 51, 56 và khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Long T.

    Về hôn nhân: Ông Nguyễn Long T được ly hôn với bà Trần Ngọc H.

  2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.
  3. Về án phí và chi phí tố tụng:

    Về án phí: Ông Nguyễn Long T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003972 ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh; ông Nguyễn Long T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

    Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Long T phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); ông Nguyễn Long T đã nộp đủ chi phí ủy thác ra nước ngoài. Về chi phí gửi qua dịch vụ bưu chính ông Nguyễn Long T đã trực tiếp chi trả cho đơn vị cung cấp dịch vụ bưu chính nên bà P không phải nộp tiếp.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Riêng các đương sự ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 30 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Cục THADS tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - UBND xã phường 5, thành phố Trà Vinh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Đắc Đương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger