TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày 12/6/2025 "V/v Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Đình Sở.
2. Ông Trần Tiến Dũng.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy -Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1987.
HKTT: Xóm Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Bùi Đức D - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.
Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983.
HKTT: Xóm Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Lã Thành C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.
(Chị Hà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 26/5/2025, anh Trần Văn Đ vắng mặt không có lý do; Ông Bùi Đức D và ông Lã Thành C đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/3/2025, bản tự khai ngày 25/3/2025 và biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân:
Chị T và anh Đ xây dựng gia đình với nhau năm 2005, làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng với bố mẹ đẻ anh Đ tại xã Đ một thời gian dài, sau đó vợ chồng bàn với nhau ra ở riêng để sinh sống, làm ăn kinh tế, thời gian đầu tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Tuy nhiên mấy năm gần đây cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng anh chị không có con chung dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong làm ăn kinh tế, vợ chồng không tin tưởng vào tình cảm của nhau. Khi mâu thuẫn vợ chồng xẩy ra thì hai bên gia đình có biết, có khuyên bảo, nhưng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không tự khắc phục, hàn gắn được. Chính vì cuộc sống gia đình căng thẳng nên vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến nhau. Chị T xác định tình cảm với anh Đ không còn, hôn nhân không đem lại hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn để giải phóng cho nhau, ổn định cuộc sống.
Về con chung:
Chị Hà Thị T trình bày vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng:
Chị Hà Thị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quết.
Phía bị đơn anh Trần Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân giữa chị T với anh Đ, lấy lời khai của mẹ đẻ anh Đ. Theo kết quả xác nhận thông tin cư trú tại Công an xã Đ, huyện T xác định anh Đ có hộ khẩu thường trú tại xóm Q, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/5/2025 của bà Vũ Thị Q là mẹ đẻ anh Đ cũng xác định như sau: Năm 2005 con trai bà kết hôn với chị Hà Thị T, hai bên có được tự do tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Đ, chị T chung sống cùng với gia đình nhà bà Q tại xóm Q, xã Đ, huyện T. Thời gian đầu kết hôn tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc. Sau này vợ chồng được gia đình bà Q cho mượn đất để làm nhà ra ở riêng. Tuy nhiên trong cuộc sống chung thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chính do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, kinh tế gia đình, vợ chồng không có nhiều thời gian để quan tâm, chăm sóc nhau mà ngược lại không tin tưởng tình cảm của nhau, từ đó dẫn đến cãi nhau, không tôn trọng nhau, chị T cũng nhiều lần bực tức có cãi lại với chồng, cãi lại bố mẹ chồng. Chính vì cuộc sống vợ chồng căng thẳng nên chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở. Khi mâu thuẫn xảy ra bố mẹ hai bên nội ngoại có biết, có khuyên bảo vợ chồng bỏ qua mâu thuẫn về để đoàn tụ gia đình nhưng không mang lại kết quả gì. Quan điểm của gia đình: Thực tế vợ chồng anh Đ, chị T đang sống ly thân, hôn nhân không có hạnh phúc, bà Q đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, để các bên được tự do, thoải mái về tư tưởng và có cuộc sống riêng của mình.
Về con chung:
Bà Q xác nhận vợ chồng anh Đ, chị T không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng:
Theo bà Q thì vợ chồng anh Đ, chị T sau khi kết hôn thì cùng chung sống với gia đình nhà bà, sau đó vợ chồng ra ở riêng, dẫn đến mâu thuẫn mâu thuẩn vợ chồng, anh chị đã sống ly thân nên không tạo lập được tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp, tư trang riêng cũng không có.
Hiện tại anh Đ đi làm thuê ở xa nhà, anh chỉ nói với bà đi làm ở M còn làm công việc gì, địa chỉ cụ thể bà không biết, anh Đ vẫn thường xuyên gọi điện về hỏi thăm sức khỏe, công việc nhà, ngày lễ, ngày tết anh Đ đều thu xếp công việc về thăm gia đình. Bà Q có nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác của Tòa án, bà có gọi điện thông báo trực tiếp đến anh Đ về việc Tòa án giao các văn bản tố tụng, thông báo cho anh đến Toà án để giải quyết ly hôn với chị T, anh Đ có nói với bà là: Việc ly hôn, giữa chị T và anh Đ cũng đã được chị T nói chuyện, thông báo cho anh được biết, thực tế vợ chồng không còn ở cùng với nhau và sống ly thân từ lâu, con cái không có, mỗi người một cuộc sống riêng không có gì giàng buộc với nhau nên anh đồng ý ly hôn để giải phóng cho nhau. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác thì vợ chồng cưới nhau xong về ở chung với gia đình bố mẹ, sau đó cùng nhau đi làm thuê, mâu thuẫn vợ chồng, vợ chồng sẩy ra và đã sống ly thân nên chưa tạo lập được tài sản chung, công sức đóng góp, tư trang riêng: Không có. Anh Đ đi làm ở M nhưng công việc bận anh không xin nghỉ để về Tòa án giải quyết ly hôn được, anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Quan điểm Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, bị đơn là ông Bùi Đức D và ông Lã Thành C đều trình bày:
Chị T kết hôn với anh Đ năm 2005, hai bên làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Trong cuộc sống, anh chị đã có nhiều mâu thuẫn. Xác minh về tình trạng hôn nhân tại địa phương và cung cấp của gia đình anh Đ. Phía chị T xác định không còn tình cảm với anh Đ, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, kéo dài nhiều năm nay, hôn nhân không có hạnh phúc, vợ chồng ly thân đã lâu. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hà Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Trần Văn Đ.
Về con chung:
Chị T và anh Đ không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp, tư trang riêng:
Chị T xác định vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí:
Chị T là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 26/5/2025. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị T, xử cho chị T được ly hôn anh Trần Văn Đ.
Về con chung:
Không có. Các vấn đề khác đương sự trình bày không có, ly hôn không có đề nghị gì nên không xem xét.
Về án phí:
Chị T được miễn án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 11/3/2025 chị Hà Thị T nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn với chị Trần Văn Đ, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình được Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Hà Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 26/5/2025, anh Trần Văn Đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T và anh Đ là phù hợp quy định tại khoản 1+3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Trần Văn Đ đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung với gia đình bố mẹ đẻ anh Đ tại xã Đ, huyện T, tình cảm vợ chồng bước đầu hòa thuận, hạnh phúc. Trong cuộc sống mấy năm gần đây vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong kinh tế gia đình, vợ chồng không tin tưởng, tôn trọng nhau từ đó lời qua tiếng lại dẫn đến cãi nhau, vợ chồng không có con chung nên cũng không có sự gắn kết tình cảm, chị T đã về sinh sống cùng với bố mẹ đẻ của chị từ rất lâu, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không ai còn quan tâm đến nhau, nội dung này đã được nguyên đơn trình bày tại bản tự khai.
Anh Đ không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm trình bày gì về việc ly hôn. Kết quả thu thập chứng cứ xác minh tại khu hành chính xóm Q, xã Đ, lấy lời khai của bà Vũ Thị Q1 là mẹ đẻ anh Đ cũng đều xác định vợ chồng anh Đ, chị T có mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau, cuộc sống chung không có hạnh phúc, thực tế anh chị đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài, không thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng đối với nhau. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tình trạng hôn nhân giữa anh Đ, chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị T xin ly hôn với anh Đ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Hà Thị T và anh Trần Văn Đ không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Hà Thị T xác định vợ chồng không có, ly hôn chị không có đề nghị gì. Anh Trần Văn Đ không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm gì về các vấn đề trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự là phù hợp nên cần chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị Hà Thị T là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 + 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hà Thị T đối với anh Trần Văn Đ. Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Trần Văn Đ.
2. Về án phí: chị Hà Thị T được miễn án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi các đương sự thường trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đào Thị Anh Nhinh |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V/v Ly hôn
