TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-4-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiến
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Nguyễn Văn Mến
- 2/ Bà Lê Thị Tuyết Mai
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Trung Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 10/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1987 (SĐT: 0912.855.xxx) – Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Thường trú: Số B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (SĐT: 0917.559.xxx) – Vắng mặt.
Thường trú: Số B, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở hiện nay: Số C, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/10/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Qua tìm hiểu bà Đ và ông H tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C vào ngày 17/01/2005.
Ông, bà sống hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải, cả hai đã cố hàn gắn tình cảm nH không thành. Bà và ông H đã ly thân hơn 01 năm nay. Vì vậy, bà Đ làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ giải quyết cho bà vấn đề sau:
- + Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1
- + Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Huy H2 (nam), sinh ngày 10/01/2008. Sau khi ly hôn bà Đ được yêu cầu trực tiếp nuôi con đến khi trưởng thành, bà Đ không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung: Không có.
- + Về nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Nguyễn Văn H: Được Tòa án triệu hợp lệ 02 lần nH không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Bị đơn tiếp tục vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt các lần hòa giải và xét xử, Tòa án đã tiến hành triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Từ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự nghiêm trọng, đời sống hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Đính kèm bài phát biểu).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Văn H tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C vào ngày 17/01/2005 nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, bà Đ và ông H phát sinh mâu thuẫn, bà Đ có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại quận C cho nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn – Ông Nguyễn Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nH vẫn vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án (vắng mặt nguyên đơn và bị đơn) theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông H chung sống năm 2005 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận C vào ngày 17/01/2005. Bà Đ và ông H sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Tại phiên tòa hôm nay ông H tiếp tục vắng mặt mặc dù ông H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nH vẫn vắng mặt cho nên được xem là từ bỏ quyền tranh tụng của mình. Hội đồng xét xử sẽ giải quyết vụ án dựa trên trình bày của bà Đ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo bà Đ, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải cho nên bà xin ly hôn.
Xét trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ xác nhận bà và ông H chung sống không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng mặc dù vợ chồng có cố gắn hàn gắn tình cảm nH không cải thiện. Do đó, bà và ông H đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay.
Mặt khác, ông H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử nH vẫn không đến Toà án tham gia tố tụng để Toà án hoà giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều này chứng tỏ giữa bà Đ và ông H đã không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được thì cuộc sống chung cũng không còn ý nghĩa. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Bà Đ khai có 01 con chung tên Nguyễn Huy H2 (nam), sinh ngày 10/01/2008. Sau khi ly hôn bà Đ được yêu cầu trực tiếp nuôi con đến khi trưởng thành, bà Đ không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tại bản tự khai ngày 04/02/2025 thì cháu H2 có nguyện vọng sống với mẹ. Ngoài ra, hiện tại cháu H2 đang sống chung với bà Đ. Bà Đ cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu H2 đến khi trưởng thành. Nhằm tạo điều kiện về mặt vật chất và tinh thần cho cháu Hoàng T làm xáo trộn cuộc sống của cháu. Vì vậy, việc giao cháu H2 cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp quy định pháp luật và cũng đảm bảo cuộc sống cho cháu H2. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu ông H cấp dưỡng cho nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông H theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- + Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng như đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
- + Về nội dung giải quyết vụ án: Với những phân tích nêu trên về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung này là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ về việc ly hôn với ông Nguyễn Văn H1
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn với ông Nguyễn Văn H1
- Về con chung: Nguyên đơn khai có 01 con chung tên Nguyễn Huy H2 (nam), sinh ngày 10/01/2008. Sau khi ly hôn bà Đ được yêu cầu trực tiếp nuôi con đến khi trưởng thành, bà Đ không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông H theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có ai tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí bà Đ đã nộp theo biên lai thu số 0003997 ngày 31/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự, quận C thành án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm phải chịu. Bà Đ đã nộp xong án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
| Bùi Trung Hiến |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đ và Nguyễn Văn H "Tranh chấp ly hôn"
