Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN V

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/4/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị H1

Bà Hoàng Thị T2

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Thảo V1 - Thư ký TAND huyện V, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H2 - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 141/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1977. (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ: Đường B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Địa chỉ: thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Nguyễn Lương C, sinh ngày 03/10/2011.

HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 (bố mẹ đẻ của cháu C). (Vắng mặt)

Những người tham gia tố tụng khác:

1

- Người làm chứng: cháu Nguyễn Hương G, sinh năm 2004 (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân xã H, huyện K, huyện V, tỉnh Hưng Yên và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 17/09/2003. Sau khi kết hôn, bà và ông T1 sống tại nhà của bố mẹ chồng tại xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên 03 năm đầu, sau đó ông bà chuyển về thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên sinh sống. Ông bà sống hạnh phúc đến giữa năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do ông T1 chơi lô đề, cờ bạc từ những năm 2014 đến nay không thay đổi, bà thường xuyên phải trả nợ cho ông T1. Tiền ông T1 kiếm ra chỉ để ông ăn chơi, không đóng góp chi trả nợ xây nhà, không đóng góp tiền sinh hoạt gia đình và nuôi các con. Bà đã khuyên ông T1 nhiều lần nhưng ông T1 không thay đổi. Ngoài ra, ông bà còn mâu thuẫn về tính cách, quan điểm sống dẫn tới càng ngày hai vợ chồng càng xa cách. Ông bà đã sống ly thân được 2 năm nay, không quan tâm, không liên lạc với nhau. Bà đã đưa cháu C về nhà ngoại ở tại xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên được 2 tháng nay. Bà xác định không còn tình cảm với ông T1 nữa nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn.

Về con chung: Bà xác định bà và ông T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Hương G, sinh ngày 24/8/2004 và cháu Nguyễn Lương C, sinh ngày 03/10/2011. Hiện tại, cháu G đã hơn 18 tuổi nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu C cho đến khi cháu thành niên. Bà không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp: Ông bà không có tài sản chung, công nợ chung, đất nông nghiệp chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo biên bản lấy lời khai, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị T tự nguyện kết hôn, việc đăng ký kết hôn và nơi sinh sống sau khi kết hôn như bà T trình bày trên. Quá trình chung sống, ông bà cũng có lúc cãi nhau. Ông thừa nhận thời gian gần đây ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, lối sống và không nói chuyện được với nhau. Tuy nhiên, theo ông, đây là chuyện bình thường không phải là lý do để hai vợ chồng ly hôn. Khi ông bà ly hôn sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều người khác, cụ thể là hai bên bố mẹ và các con chung. Chính vì vậy mà khi ông bà xảy ra mâu thuẫn, ông đã lựa chọn về sống cùng gia đình ông tại thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên và tạm thời sống ly thân với bà T. Thời gian ly thân đã hơn 05 tháng. Ông muốn trong thời gian ly thân này là để cả hai nhìn nhận lại bản thân và sửa đối nhưng không ngờ sau đó bà T lại làm đơn ly hôn gửi ra Tòa mà không có sự bàn bạc, thống nhất với ông.

2

Quan điểm của ông là không nhất trí ly hôn. Lý do là vì giữa ông và bà T còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ, cụ thể là tài chính và con chung.Trong trường hợp bà T vẫn cương quyết xin ly hôn thì ông vẫn sẽ không đến Tòa và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung là cháu Nguyễn Hương G, sinh ngày 24/8/2004 và cháu Nguyễn Lương C, sinh ngày 03/10/2011. Do ông không xác định ly hôn nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung. Từ khi hai vợ chồng ly thân đến nay, cháu C vẫn ở cùng bà T.

Về tài sản chung, công nợ, công sức, đất nông nghiệp: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo biên bản lấy lời khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Lương C trình bày:

Cháu là con của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T. Hiện cháu học lớp 8A1 trường THCS L, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Cháu chứng kiến việc bố mẹ cháu ở nhà hay cãi nhau, đã không ở chung phòng từ lâu. Bố cháu không hay ở nhà, hay đi chơi cờ bạc, không quan tâm nhiều đến gia đình. Hiện tại, bố mẹ cháu không ở cùng nhau, cháu đã cùng mẹ về ở nhà ông bà ngoại tại đường B, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên được 02 tháng nay. Trong khoảng thời gian 02 tháng đó, bố cháu không liên lạc hay hỏi thăm cháu bao giờ. Mọi chi phí sinh hoạt và học của cháu do mẹ cháu lo. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ vì mẹ cháu vẫn luôn là người bên cạnh cháu trực tiếp chăm sóc cháu, còn bố ít quan tâm tới gia đình.

* Theo biên bản lấy lời khai, người làm chứng cháu Nguyễn Hương G trình bày:

Bố đẻ cháu là Nguyễn Văn T1, mẹ đẻ cháu là Nguyễn Thị T. Bố mẹ cháu sinh được 02 con chung là cháu và em cháu là em Nguyễn Lương C, sinh năm 2011. Hiện cháu đang học đại học năm thứ 3 tại trường đại học Y. Cháu đang ở với mẹ cháu và ông bà ngoại tại Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên từ 2 năm nay. Khi còn chung sống, bố mẹ cháu không hợp nhau nên có nhiều mâu thuẫn. Cháu chứng kiến việc bố mẹ ở nhà hay cãi nhau, cháu biết bố cháu hay chơi cờ bạc, nhiều nợ nần. Từ khi cháu và em C về ở với mẹ tại nhà ông bà ngoại, bố cháu không hay liên lạc, hỏi thăm vợ và các con. Cháu đi học đại học, có xin tiền trọ của bố, bố cho cháu tiền đi thuê trọ, ngoài ra mẹ cháu là người lo toàn bộ chi phí học hành, sinh hoạt của cháu. Cháu không muốn bố mẹ cháu ly hôn nhưng nếu bố mẹ cháu không chung sống cùng nhau nữa thì cháu muốn ở với mẹ cháu, vì mẹ cháu vẫn luôn là người bên cạnh cháu trực tiếp chăm sóc cháu, còn bố ít quan tâm tới gia đình.

* Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Ông Nguyễn Văn T1 đăng ký thường trú tại thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên và không đăng ký tạm trú tại bất kỳ nơi nào khác. Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 tự

3

nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn ngày 17/9/2003 tại Ủy ban nhân dân xã H (nay là xã P), huyện K, tỉnh Hưng Yên. Do mâu thuẫn vợ chồng nên hiện nay chỉ có ông T1 sinh sống tại thôn A, xã H, vợ và con ông T1 không sinh sống cùng ông T1. Nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn của hai ông bà chính quyền địa phương không nắm được. Ông T1 và bà T có 02 con chung gồm: cháu Nguyễn Hương G, sinh ngày 24/8/2004 và cháu Nguyễn Lương C, sinh ngày 03/10/2011.

Tại phiên tòa: Sau khi HĐXX xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Đại diện VKSND huyện V tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, hoạt động thu thập chứng cứ đúng trình tự thủ tục đảm bảo khách quan, HĐXX không thuộc trường hợp phải thay đổi, việc xem xét chứng cứ tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không chấp hành đúng quy định tại điều 70; điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 81, điều 82, điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm b khoản 1 điều 39; Khoản 4 điều 147; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử cho bà Nguyễn Thị Thúy ly H ông Nguyễn Văn T1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lương C cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ, công sức, đất nông nghiệp: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, đã có

4

đủ căn cứ khẳng định: Bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 17/9/2003 tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, ông bà xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn chủ yếu là do ông T1 ham chơi dẫn đến nợ nần, không cùng bà T lo kinh tế chăm sóc gia đình. Ngoài ra, ông bà còn không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống. Ông bà đã chính thức ly thân từ khoảng tháng 8 năm 2024 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay bà T xin ly hôn, ông T1 không đồng ý ly hôn nhưng lý do ông đưa ra không phải là vì còn tình cảm với bà T mà lại là vì ông bà chưa làm rõ các vấn đề về tài chính và con chung nên không có căn cứ chấp nhận. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc bà T xin ly hôn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3].Về con chung: Bà T và ông T1 có 02 con chung gồm: cháu Nguyễn Hương G, sinh ngày 24/8/2004 và cháu Nguyễn Lương C, sinh ngày 03/10/2011. Cháu Nguyễn Hương G đã trên 18 tuổi nên Tòa án không đặt ra giải quyết việc nuôi dưỡng. HĐXX thấy bà T có công việc và thu nhập ổn định, thường xuyên gần gũi, chăm sóc cháu C. Để không gây xáo trộn môi trường học tập, đảm bảo điều kiện sống về mọi mặt của cháu, cần chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cháu C cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu thành niên.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung, ông T1 cũng không có ý kiến gì nên ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4]. Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Bà T và ông T1 không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.

[5]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 81, điều 82, điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

5

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, xử cho bà Nguyễn Thị Thúy ly H ông Nguyễn Văn T1.
  2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Lương C cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu thành niên (đủ 18 tuổi). Ông Nguyễn Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  3. Về tài sản chung, công nợ, đất nông nghiệp, công sức: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà đã nộp theo biên lai thu số 0003016 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện V, bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA, TAND tỉnh HY.
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - VKSND huyện V
  • - Chi cục THADS huyện V.
  • - UBND xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên (đăng ký số 23 quyền 1 ngày 17/9/2003)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN THỊ M

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN về hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án hôn nhân gia đình giữa bà T và ông T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger