TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuân.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Mạc Vương Long.
2. Bà Vũ Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 43/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị V, sinh năm 1995 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: Xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Địa chỉ: TDP C C, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/01/2025 và bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trương Thị V trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn B kết hôn với nhau vào năm 2017, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Vợ chồng chung sống với nhau và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (UBND phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang). Sau khi cưới nhau thì chị vẫn ở mẹ đẻ sinh sống còn anh B làm việc tại Thái Nguyên. Vợ chồng chung sống ban đầu thì hạnh phúc nhưng từ năm 2019 thì vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau khiến cho cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng đến nay không còn ai quan tâm đến ai nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Phạm Văn B.
- Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Phạm Trương Kim N, sinh ngày 08/5/2017, cháu Phạm Trương Minh L, sinh ngày 06/7/2024. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng với chị. Sau ly hôn, chị đề nghị Tòa án cho chị được nuôi dưỡng chăm sóc cả hai cháu. Về vấn đề cấp dưỡng chị và anh B tự thỏa thuận, không yêu cầu không đề nghị Toà án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng chị không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/01/2025 cháu Phạm Trương Kim N trình bày trong trường hợp bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở cùng mẹ là Trương Thị V.
Tại biên bản xác minh ngày 17/3/2025 đối với ông Nguyễn Văn H - Cán bộ Công an phường T cung cấp: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1988 hiện nay vẫn đăng ký nhân khẩu thường trú tại phường T, thị xã C, tỉnh bắc Giang chưa chuyển khẩu đi đâu.
Tại biên bản xác minh ngày 17/3/2025 đối với ông Nguyễn Văn K, tổ trưởng tổ dân phố Cẩm Định C cung cấp: Anh Phạm Văn B vẫn là công dân của tổ dân phố, anh B cưới vợ vào năm 2017. Sau khi cưới vợ anh B cùng vợ đi làm ăn ngay thỉnh thoảng mới về địa phương do vậy anh B cùng chị V có mâu thuẫn như nào, nguyên nhân mâu thuẫn là gì thì ban quản lý của tổ dân phố không nắm được vì anh chị không thông báo đến chính quyền để giải quyết. Hiện nay anh B đi làm ăn xa vắng mặt tại địa phương thỉnh thoảng cuối tuần về nhà nhưng về một hai ngày rồi lại đi ngay nên ban quản lý của tổ dân phố không nắm được anh B đi làm ở đâu.
Tại biên bản xác minh ngày 17/3/2025 đối với ông Phạm Văn B1 cung cấp: Ông là bố đẻ của anh Phạm Văn B, anh B hiện nay vẫn đăng ký nhân khẩu thường trú cùng hộ gia đình ông. Anh B và chị V kết hôn với nhau vào năm 2017, quá trình anh B chị V chung sống ông có nghe nói do bất đồng quan điểm sống dẫn đến hai vợ chồng có cãi nhau, nhưng vợ chồng thì không ai tránh khỏi mâu thuẫn trong cuộc sống. Hiện nay, anh B đang làm nghề lái xe ở huyện L, tỉnh Bắc Giang cứ một hai tháng anh B lại về, anh B về được một hai ngày rồi lại đi ngay. Các văn bản của Tòa án ông có nhận thay cho anh B và cũng đã thông báo cho anh B được biết.
Tại Công văn số 838/QLXNC ngày 31/3/2025 của Phòng Q, Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh cung cấp: Qua tra cứu thông tin dữ liệu anh Phạm Văn B, sinh năm 1983, địa chỉ: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP Cẩm Định C, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang) có số CMND [...] hiện không có thông tin cấp hộ chiếu và thông tin xuất nhập cảnh.
Bị đơn là anh Phạm Văn B đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Nhưng anh Phạm Văn B không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải nhưng anh Phạm Văn B đều vắng mặt mà không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
Tại phiên toà, nguyên đơn là chị Trương Thị V vắng mặt có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Phạm Văn B vắng mặt lần thứ hai không lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án và công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị V, cho chị Trương Thị V được ly hôn với anh Phạm Văn B.
- - Về con chung: Giao cho chị Trương Thị V trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của vợ chồng là cháu Phạm Trương Kim N, sinh ngày 08/5/2017 và Phạm Trương Minh L, sinh ngày 06/7/2024. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- - Về án phí: Chị Trương Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị V có đơn xin ly hôn với anh Phạm Văn B. Bị đơn anh Phạm Văn B đang cư trú tại TDP Cẩm Định C, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị V vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Văn B vắng mặt, Tòa án đã triệu tập lần thứ hai nhưng anh Phạm Văn B vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Anh Phạm Văn B vẫn đăng ký nhân khẩu thường trú tại TDP Cẩm Định C, phường T, thị xã C, tỉnh Bắc Giang. Tại Công văn số 838/QLXNC của Phòng Q, Công an tỉnh B cung cấp thông tin hiện nay anh Phạm Văn B chưa có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 23, khoản 3 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt chị Trương Thị V và anh Phạm Văn B.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị V kết hôn với anh Phạm Văn B trên cơ sở có sự tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 01 năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là UBND phường Thanh Hải, thị xã C). Như vậy xác định quan hệ hôn nhân của chị V anh B là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị V anh B không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng không còn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V anh B là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị V cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.
Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Trương Thị V và anh Phạm Văn B đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Thị V và anh Phạm Văn B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Trương Thị V được ly hôn anh Phạm Văn B.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc cho chị Trương Thị V được ly hôn với anh Phạm Văn B phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị Trương Thị V và anh Phạm Văn B có con có hai con chung là cháu Phạm Trương Kim N, sinh ngày 08/5/2017 và Phạm Trương Minh L, sinh ngày 06/7/2024. Hiện nay, cả hai con chung đều đang ở cùng với chị V tại Cao Bằng. Trong thời gian chị V chăm sóc hai các con chung vẫn phát triển khoẻ mạnh bình thường, mọi mặt trong cuộc sống đều được đảm bảo, chị V có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung. Con chung là cháu N cũng có nguyện vọng ở cùng chị V khi bố mẹ ly hôn. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển của các con chung, tránh sự xáo trộn môi trường sống, học tập ổn định của các con chung cần giao các con chung cho chị Trương Thị V chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự cũng như nguyên vọng của con chung, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Trương Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị V được ly hôn anh Phạm Văn B.
- Về con chung: Giao các con chung là cháu Phạm Trương Kim N, sinh ngày 08/5/2017 và Phạm Trương Minh L, sinh ngày 06/7/2024 cho chị Trương Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi các con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn anh Phạm Văn B được quyền đi lại thăm nom các con chung không ai được cản trở anh Phạm Văn B thực hiện quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị Trương Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003066 ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trương Thị V đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là chị Trương Thị V, bị đơn là anh Phạm Văn B vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Quốc Tuân |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Mạc Vương Long - Vũ Thị Mai | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Tuân |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trương Thị V được ly hôn anh Phạm Văn B
