Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 10/4/2025

“V/v: Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương và bà Nguyễn Thị Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nga -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 311/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QĐHPT-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn N, sinh năm 1978, có đơn vắng mặt

- Bị đơn: Bà Đinh Thị Phương L, sinh năm 1983, vắng mặt

Cùng cư trú: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 23/9/2024, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Bùi Văn N trình bày:

Ông N và bà Đinh Thị Phương L tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước. Việc chung sống và đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc ai. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất được mọi việc trong gia đình, vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã lẫn nhau. Ông N và bà L đã hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn nên đã sống ly thân từ đó cho đến tháng 9/2023 thì bà L tự ý bỏ nhà đi, ông N không biết đi đâu, không liên lạc được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên ông N yêu cầu giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.

Về con chung: Trong quá trình chung sống ông N và bà L có hai con chung là cháu Bùi Phương U, sinh ngày 29/7/2007 và Bùi Phương T, sinh ngày 15/01/2013. Hiện hai cháu đang sinh sống cùng ông N tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, ông N yêu cầu được nuôi cả hai con, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn bà Đinh Thị Phương L vắng mặt nên không có lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn bà L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cắn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn N, cho ông N được ly hôn với bà Đinh Thị Phương L; Giao 02 con chung tên Bùi Phương U, sinh ngày 29/7/2007 và Bùi Phương T, sinh ngày 15/01/2013 cho ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét; Án phí Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Thủ tục tố tụng: Đây là vụ án “Ly hôn” do ông Bùi Văn N khởi kiện, bị đơn là bà Đinh Thị Phương L cư trú tại khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

Việc vắng mặt của các đương sự: Ngày 20/02/2025, nguyên đơn ông Bùi Văn N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông N đã có lời khai nên việc vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn bà Đinh Thị Phương L mặc dù được Tòa án tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ và đăng báo, đài tìm kiếm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, việc bà L không đến Tòa để tham gia tố tụng là đương nhiên từ bỏ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Quan hệ hôn nhân: Ông Bùi Văn N và bà Đinh Thị Phương L tự nguyện chung sống với nhau, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước, vào sổ đăng ký kết hôn số 23, ngày 16/3/2007. Căn cứ Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp, ông N có đơn khởi kiện xin ly hôn với bà L đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Đinh Thị Phương L, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng (Thông báo thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử...,) và thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho bà L biết việc ông N khởi kiện xin ly hôn với bà, yêu cầu bà đến Toà án để làm việc nhưng bà L vẫn vắng mặt không có lý do là từ bỏ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu-chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét.

Theo lời trình bày của ông N, vợ chồng ông kết hôn năm 2006, chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm về mọi vấn đề trong cuộc sống, không thấu hiểu nhau nên vợ chồng thường xuyên gây gổ, cãi vã lẫn nhau. Mặc dù nhiều lần hòa giải nhưng không thành mà ngày càng mâu thuẫn trầm trọng hơn nên vợ chồng sống chung nhưng không còn quan tâm chăm sóc nhau từ đó cho đến tháng 9/2023 thì bà L tự ý bỏ nhà đi đâu ông N không biết, không liên lạc được. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, ông N có nguyện vọng được ly hôn với bà L để ổn định cuộc sống sau này.

Xét thấy, hôn nhân hạnh phúc được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau và phải có sự đồng thuận từ hai phía, nhưng bà ông N cho rằng cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc cho nhau, hai người đã sống riêng từ năm 2019 đến nay nên kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nguyện vọng được ly hôn với và L. Do đó, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân của ông N và bà L không hạnh phúc, không thể tiếp tục kéo dài do mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, cho ông được ly hôn với bà L là phù hợp, đúng quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Ông N và bà L có 02 con chung là Bùi Phương U, sinh ngày 29/7/2007 và Bùi Phương T, sinh ngày 15/01/2013, ông N yêu cầu được nuôi hai con. Xét thấy, sau khi bà L bỏ nhà đi thì các con đều sống cùng ông N, nguyện vọng của hai con Bùi Phương U, Bùi Phương T cũng muốn được ở với ông; Bà L đến nay vẫn không đến Toà án làm việc, không có ý kiến để thể hiện ý chí nguyện vọng của mình về việc nuôi các con. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt, việc học tập của các con được ổn định cần chấp nhận nguyện vọng của ông N và các con, giao hai con cho ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.3] Tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

[3] Án phí sơ thẩm: Ông N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Chi phí tố tụng về việc đăng thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ông N nộp 7.000.000 (bảy triệu đồng), đã chi đủ. Ông N tự nguyện chịu và không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 4, Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho ông Bùi Văn N được ly hôn với bà Đinh Thị Phương L (Giấy chứng nhận kết hôn số 23, ngày 16/3/2007 do UBND xã T, huyện C, tỉnh Bình Phước cấp).

2. Con chung: Giao con Bùi Phương U, sinh ngày 29/7/2007 và Bùi Phương T, sinh ngày 15/01/2013 cho ông Bùi Văn N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.

3. Tài sản chung, cho vay và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm: Ông Bùi Văn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001746 ngày 03/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Ông N đã nộp đủ án phí.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND, VKSND tỉnh Bình Phước.

TÒA

- VKSND TP Đồng Xoài;

- CC THA DS TP ĐX;

- UBND nơi cấp giấy CNKH;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Lê Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger