Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 11 - GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-11-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thái Thạnh.

Ông Nguyễn Văn Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thành Long, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 19/5/1978, số định danh cá nhân 040178028586; địa chỉ: thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T1, sinh ngày 06/10/1980, số định danh cá nhân 040080005994; địa chỉ: thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai.

Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T1 vắng mặt không có lý do lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 24/6/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:

    Chị T và anh Nguyễn Anh T1 tự nguyện tổ chức đám cưới, chung sống với nhau từ năm 1997 và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 19/8/2007 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Gia Lai). Quá trình chung sống, tính cách của anh chị không hợp nhau, anh T1 ghen tuông vô cớ với em rể, nói móc, kể cả phụ nữ anh cũng ghen, không cho chị chơi với bất kỳ ai, chiến tranh lạnh. Vì các con, chị đã nhẫn nhịn mong vợ chồng êm ấm, cùng nhau nuôi dạy con trưởng thành nhưng anh T1 không thay đổi. Do không chịu đựng được nên chị đã ly thân với anh T1, vào Thành phố Hồ Chí Minh làm việc từ cuối tháng 5/2025, hiện nay chị sinh sống, làm việc trong Thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay chị cảm thấy không thể chịu đựng được cuộc sống hôn nhân, không còn tình cảm nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

    Về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Chị và anh T1 có 05 con chung là Nguyễn Thị Huyền T2, sinh năm 1998; Nguyễn Trọng Anh Thành Đ, sinh ngày 21/10/2003; Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 09/8/2005; Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 31/3/2008 và Nguyễn Thị Hà N1, sinh ngày 22/4/2014. Đối với các con chung Nguyễn Thị Huyền T2, Nguyễn Trọng Anh T, Nguyễn Thị Hồng N hiện nay đã đủ 18 tuổi và tự lập nên chị không yêu cầu giải quyết. Đối với các con chung Nguyễn Thị Hà V và Nguyễn Thị Hà N1 hiện nay chưa đủ 18 tuổi, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con. Quá trình giải quyết vụ án, các cháu đều có ý kiến gửi cho Tòa án thể hiện rằng các cháu không muốn bố mẹ ly hôn và ở với ai cũng được, ai nhận nuôi thì các cháu ở với người đó. Hiện nay vì hoàn cảnh công việc chị phải đi làm xa, các con ở nhà giao cho anh T1 chăm sóc nên mặc dù vẫn giữ nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con nhưng trong trường hợp Tòa án quyết định giao cho chị và anh T1 mỗi người nuôi một con hoặc giao cả hai con cho anh T1 trực tiếp nuôi thì chị cũng không có ý kiến gì. Hiện nay chị làm công việc tự do, thu nhập trung bình hàng tháng là 15.000.000 đồng nên trong trường hợp được giao quyền trực tiếp nuôi con, chị có thể tự mình nuôi dưỡng, chăm sóc con đảm bảo mà không cần anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

    Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Theo nội dung Bản tự khai đề ngày 08/8/2025 và Bản tự khai đề ngày 04/9/2025, bị đơn anh Nguyễn Anh T1 trình bày ý kiến như sau:

    Anh T1, chị T kết hôn với nhau đã được 25 năm và sinh được 05 người con. Trong quá trình sinh sống vợ chồng anh có nhiều chuyện mâu thuẫn với nhau nhưng anh cam kết từ ngày kết hôn tới nay anh chỉ đánh vợ 02 lần. Trong đơn vợ anh gửi lên Tòa án có nói anh hay ghen tuông vô cớ, anh có nói với vợ nhưng nói đường này vợ anh lại hiểu đường khác. Vợ anh nói anh ghen với em rể, anh cam đoan là không có sự việc này. Sự việc cụ thể như sau: Vào đầu năm 2024, anh có đưa mẹ vợ đi khám bệnh ở Bệnh viện T4. Trong thời gian đó, bố mẹ anh bị ngộ độc thức ăn phải đi cấp cứu ở Bệnh viện N3, cùng ngày đó vợ anh cũng bị ngộ độc thức ăn phải cấp cứu ở Bệnh viện C, anh có điện nhờ em rể ra chăm mẹ vợ để anh về chăm vợ. Hai ngày sau vợ anh khỏi bệnh thì ra chăm mẹ đẻ ở Huế. Vợ anh để mẹ ở bệnh viện, đi chơi với em rể, còn phát trực tiếp trên mạng nên anh có nói với vợ đi chăm mẹ mà còn có thời gian đi chơi được. Anh có nói hơi nặng lời nên vợ anh nói anh ghen với em rể. Còn một vụ sau này nữa anh có một người bạn và một người con kết nghĩa của vợ ở Đ đi công việc và có ghé nhà anh chơi. Anh có chuyện trò tiếp đón đầy đủ nhưng hôm đó anh bận việc nên không mời bạn đó ở lại ăn nhậu. Lý do thứ nhất là do anh bận việc, lý do thứ hai khi mẹ bạn đó mất vợ chồng anh có lên nhà thắp nhang và gửi lời chia buồn tới gia đình bạn đó nhưng đến ngày bố anh mất bạn đó không một lời thăm hỏi, động viên nên anh giận, không tiếp, không mời ở lại ăn nhậu nên vợ anh nói anh ghen. Qua hai hôm sau anh nói vợ ngồi lại nói chuyện để vợ chồng hiểu nhau nhưng vợ anh bảo khuya rồi không nói nữa, anh chưa kịp giải thích thì vợ anh bỏ nhà đi. Sau khi vợ bỏ đi anh đã tìm kiếm khắp nơi, gọi điện, nhắn tin nhưng không tìm được. Anh muốn tìm vợ nói chuyện để vợ chồng hiểu nhau, vợ chồng anh đã chung sống 25 năm, anh không rượu chè, trai gái, không sáng xỉn chiều say, theo anh nghĩ lỗi của anh chưa đến mức phải ly hôn. Do đó anh mong Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, con cái có bố, có mẹ.

  3. Kết quả xác minh mâu thuẫn hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Anh T1:

    Theo thông tin do T3 trưởng thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai là bà Cao Thị A cung cấp thì chị T và anh T1 có đăng ký cư trú, sinh sống tại thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên khoảng 03 tháng gần đây chị T bỏ đi, không sống với anh T1. Chị T đi đâu, làm gì thì Ban N2 thôn không nắm được. Về mâu thuẫn hôn nhân của chị T và anh T1 thì theo Ban N2 thôn được biết là anh T1 hay ghen, anh T1 cũng có đánh chị T nhưng không đến mức nghiêm trọng. Ban Nhân thôn cũng chưa bao giờ thấy anh chị mâu thuẫn đến mức hàng xóm và Ban N2 thôn phải can thiệp, giải quyết.

  4. Diễn biến phiên tòa:
    1. Chị Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên các đương sự không tự thỏa thuận được việc giải quyết các vấn đề tranh chấp.
    2. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai:

      Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã được Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

      Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về ly hôn của chị Nguyễn Thị T.

      Về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Để ổn định cuộc sống của các con chưa thành niên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83 84 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 31/3/2008 và Nguyễn Thị Hà N1, sinh ngày 22/4/2014 cho anh T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T1 không có đề nghị về cấp dưỡng nên không xem xét.

      Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

      Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Căn cứ phạm vi yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T nêu trong đơn khởi kiện đề ngày 24/6/2025 thì đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự đều cư trú tại thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là thôn T, xã I, tỉnh Gia Lai), tranh chấp không có yếu tố nước ngoài. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 11 - Gia Lai.

[2] Bị đơn anh Nguyễn Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1.

[3] Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Anh T1 chung sống với nhau từ năm 1997 và tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 19/8/2007 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Gia Lai). Việc kết hôn của anh chị đảm bảo về điều kiện kết hôn, không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn và được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên có giá trị pháp lý, là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[4] Theo lời trình bày của chị T, nguyên nhân chị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T1 là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, anh T1 ghen tuông vô cớ, không cho chị T chơi với bất kỳ ai, thường chiến tranh lạnh. Anh T1 thừa nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng anh có nhiều chuyện mâu thuẫn, từ khi chung sống với nhau đến nay anh có đánh vợ 02 lần, tuy nhiên chị T nói anh hay ghen tuông vô cớ là do không hiểu ý của anh. Anh muốn vợ chồng cùng ngồi lại nói chuyện để hiểu nhau hơn. Anh chị đã chung sống với nhau 25 năm, anh không rượu chè, trai gái, không sáng xỉn chiều say, lỗi của anh chưa đến mức phải ly hôn nên anh mong Tòa án hòa giải để vợ chồng anh chị đoàn tụ, để các con của anh chị có bố, có mẹ.

[5] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải đoàn tụ nhưng không tiến hành hòa giải được do chị T có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, từ chối gặp mặt anh T1, trong khi anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do tại phiên hòa giải.

[6] Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình (sau đây gọi là Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP) quy định: “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây: “a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”.

[7] Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án đã nhiều lần phân tích quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, động viên chị T rút đơn khởi kiện nhưng chị T không đồng ý, giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T1. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không tiến hành hòa giải được vì chị T có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, từ chối gặp mặt anh T1 còn anh T1 vắng mặt không có lý do tại phiên hòa giải. Chị T thừa nhận mình không còn thương yêu anh T1, anh T1 mong muốn vợ chồng cùng ngồi lại nói chuyện để hiểu nhau hơn và không muốn ly hôn nhưng lại vắng mặt không có lý do tại phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm, không thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự, thể hiện thái độ thờ ơ, không có ý thức hòa giải mâu thuẫn hôn nhân, hàn gắn tình cảm với chị T. Chị T và anh T1 đã ly thân từ tháng 5/2025 đến nay, hiện tại chị T và anh T1 mỗi người sinh sống, làm việc một nơi, bỏ mặc người kia, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Căn cứ các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình như đã viện dẫn tại Mục [6], Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của chị T và anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh T1.

[8] Về nuôi con chung: Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung chưa thành niên là cháu Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 31/3/2008; Nguyễn Thị Hà N1, sinh ngày 22/4/2014 và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con vì chị T có công việc, thu nhập hàng tháng khoảng 15 triệu đồng. Tại bản trình bày ý kiến nộp cho Tòa án, các cháu Hà V và Hà N1 không muốn cha mẹ ly hôn, mong muốn có một gia đình có cả cha và mẹ, các cháu không biết chọn ai, cha hoặc mẹ nuôi đều như nhau, ai nhận nuôi thì các cháu ở với người đó. Hội đồng xét xử xét thấy nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc con là nghĩa vụ chung của cả cha và mẹ, hiện nay mặc dù anh T1 đang là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Hà V và Hà N1, trong khi chị T đi làm xa, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án, anh T1 không có ý kiến, yêu cầu về việc nuôi con trong khi chị T có nguyện vọng được nuôi con và các con cũng không từ chối việc được ở với chị T. Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Căn cứ quy định như đã viện dẫn và Điều 6 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao cho chị T và anh T1 mỗi người được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc một con chung sẽ phù hợp với khả năng, điều kiện của mỗi người và đảm bảo lợi ích tốt nhất về mọi mặt cho con chung. Xét cháu Hà N1 còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ hơn nên Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Hà N1 cho chị T và giao cháu Hà V cho anh T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn.

[9] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 không yêu cầu người còn lại thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên cả hai đều không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

[10] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 không yêu cầu giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
  • Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85, Điều 86 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T.
    1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Anh T1.

      Giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 19/8/2007 của Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (nay là Ủy ban nhân dân xã I, tỉnh Gia Lai) hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

    2. Về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con: Sau khi ly hôn, giao con chung Nguyễn Thị Hà V, sinh ngày 31/3/2008 cho anh Nguyễn Anh T1 trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; giao con chung Nguyễn Thị Hà N1, sinh ngày 22/4/2014 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

      Thời điểm trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của chị T và anh T1 bắt đầu từ ngày 07/11/2025 cho đến khi con chung thành niên, hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

      Chị T và anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.

      Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000624 ngày 22/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai. Chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Khu vực 11 - Gia Lai;
  • - PTHADS Khu vực 11 - Gia Lai;
  • - UBND xã Ia Hrú, tỉnh Gia Lai;
  • - Lưu: HSVA, VT-LT, CPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký, đóng dấu)

Võ Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 07/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger