Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ RIỀNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Phượng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải
  • Ông Phạm Văn Khuyến
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy Duyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Bình, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Phương - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 321/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Đỗ Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1991, địa chỉ thôn G, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 09/11/2012 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B (nay là huyện P), tỉnh Bình Phước.

Thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có ba con chung gồm Đỗ Thị Yến V, sinh ngày 30/8/2012; Đỗ Thị Tường V1, sinh ngày 14/10/2015 và Đỗ Thị Phương V2, sinh ngày 09/5/2018.

Từ năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế khó khăn. Ông cho rằng làm ăn có lúc này lúc kia, không tránh khỏi lúc khó khăn, nợ nần bà N không cảm thông, đồng hành mà hay chỉ trích, trách móc dẫn đến vợ chồng cãi vã nhau. Nhiều lúc, không có sự động viên, chia sẻ từ người vợ, ông cảm thấy chán nản, mệt mỏi. Sau nhiều lần cãi vã, trách cứ nhau, bà N đưa các con bỏ đi. Từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân. Bà N chuyển về Sóc Trăng sinh sống. Trong thời gian ly thân, ông có về Sóc Trang tìm gặp, thăm các con nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được.

Do thời gian ly thân đã lâu, tình cảm hai bên không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, ba con chung do bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Bà N không cho ông gặp gỡ, thăm nom các con. Khi ly hôn, ông không yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung. Ông vẫn để bà N nuôi dưỡng các con. Sau này, nếu có tranh chấp về nuôi dưỡng con chung, ông sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Trần Thị Tuyết N có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn G, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Theo xác minh tại địa phương, từ khi vợ chồng mâu thuẫn cãi vã, bà N đã mang các con về quê ngoại sinh sống, thi thoảng có về địa phương.

Do không thể tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng nên Tòa án tiến hành niêm yết công khai xong bà N vẫn không có ý kiến.

Tại phiên tòa hôm nay, bà N vắng mặt lần 2 thứ hai không có lý do; ông Đỗ Văn T có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước phát biểu: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ nhận thấy ông Đỗ Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N. Theo lời trình bày của ông T, xác minh tại địa phương được biết giữa các bên có mâu thuẫn và từ năm 2019 cho đến nay đã sống ly thân. Điều này, có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa ông T, bà N đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích chung sống hạnh phúc không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 55, 56 của Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đỗ Văn T; chấp nhận yêu cầu về nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Ông Đỗ Văn T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N. Bị đơn thường trú tại thôn G, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng căn cứ các Điều 28; 35; 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn” và thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập lần 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[a] Xét yêu cầu ly hôn:

Hội đồng xét xử nhận định: Quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Văn T, bà Trần Thị Tuyết N được hình thành trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P nay là huyện P, tỉnh Bình Phước theo Giấy chứng nhận kết hôn số 109, quyển số 01/2012 ngày 09/11/2012, là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn ông Đỗ Văn T trình bày, trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chung sống không hạnh phúc và đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, thường xuyên cãi vã, không có sự chia sẻ, hiểu nhau. Bị đơn bà Trần Thị Tuyết N không trình bày ý kiến, quan điểm. Theo kết quả xác minh, thu thập thông tin được biết vợ chồng ông T, bà N có mâu thuẫn và đã sống ly thân thời gian dài. Hội đồng xét xử nhận định, thời điểm Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, ông T, bà N ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống. Điều này, thể hiện hôn nhân giữa ông T, bà N có sự rạn nứt tình cảm, đời sống chung không hạnh phúc. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Đỗ Văn T.

[b] Về nuôi dưỡng con chung:

Ông T, bà N có 03 con chung gồm cháu Đỗ Thị Yến V, sinh ngày 30/8/2012; Đỗ Thị Tường V1, sinh ngày 14/10/2015 và Đỗ Thị Phương V2, sinh ngày 09/5/2018. Theo trình bày của ông T, từ khi vợ chồng ly thân, bà N mang theo 3 con chung về quê ngoại sinh sống, ông tìm thăm gặp thì bà N tránh không cho thăm gặp nên ông T không tranh chấp về nuôi con với bà N mà vẫn để bà N nuôi dưỡng 3 con chung như vậy. Trường hợp nếu sau khi giải quyết vụ án, các bên có tranh chấp về nuôi con, ôn T sẽ khởi kiện bằng vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Bình tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn ông Đỗ Văn T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39; 147; 228; 244 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51; 53; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Văn T ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N.
  2. Về việc nuôi dưỡng con chung: Không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Văn T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011635 ngày 30/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng. Ông T đã hoàn thành nghĩa vụ chịu án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BP;
  • - VKSND huyện PR;
  • - THADS huyện PR;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Long Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Vũ Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T khởi kiện ly hon với ba N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger