Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 03-6-2025

V/v Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Đạt;
  2. Ông Nguyễn Đình Rành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 725/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim L; Địa chỉ: Số D H, Khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Ông Hồ Thanh T; Địa chỉ: Số C H, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Kim L trình bày:

Bà L và ông Hồ Thanh T tìm hiểu được 01 năm thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới. Sau đó đến năm 2010 cả hai làm thủ tục đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 117, quyển số 01/2010, đăng ký ngày 20/9/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010.

Vợ chồng chung sống được 12 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân ông T thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không thể hòa giải được, cuộc sống giữa hai vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay.

Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, không còn khả năng hàn gắn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Thanh T.

  • - Về con chung: Bà Lê Thị Kim L xác nhận quá trình chung sống bà và ông Hồ Thanh T có 01 (một) con chung, họ tên là Hồ Thiên L1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 03/4/2011. Hiện tại trẻ Hồ Thiên L1 đang ở cùng với ông T. Sau khi ly hôn, bà L yêu cầu giao con chung là trẻ Hồ Thiên L1 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà L sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.5000.000 đồng.
  • - Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có.
  • - Về nợ chung: Bà L xác nhận không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị Kim L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Hồ Thanh T trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Ông Hồ Thanh T và bà L tìm hiểu được 03 năm thì cả hai tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 117, quyển số 01/2010, đăng ký ngày 20/9/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010.

Vợ chồng sống hạnh phúc được 17 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai trong lúc cả hai say xỉn có lời qua tiếng lại, lúc nóng giận cải nhau. Vợ chồng đã cùng nhau khắc phục, sau mỗi lần như vậy ông đều xin lỗi bà L. Quá trình sống chung, vợ chồng đã 03 lần ly thân: 02 lần trước năm 2023 nhưng ông không nhớ cụ thể ngày tháng và lần này là từ tháng 8/2024 đến nay.

Ông T xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên đề nghị Tòa án cho ông và bà L quay về đoàn tụ.

Trong trường hợp không đoàn tụ được thì ý kiến của ông về vấn đề con chung, tài sản chung và nợ chung như sau:

  • - Về con chung: Ông Hồ Thanh T xác nhận: ông T và bà L có 01 con chung, họ tên là Hồ Thiên L1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 03/4/2011. Hiện tại trẻ Hồ Thiên L1 đang ở cùng với ông T. Sau khi ly hôn, ông T đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là trẻ Hồ Thiên L1, ông không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung: Ông T xác định không có.
  • - Về nợ chung: Ông T xác nhận không có.

Sau khi đến Tòa trình bày bản tự khai thì ông T không đến Tòa cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận G về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:

  • * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý; Về xác định tư cách tham gia tố tụng; Xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ, Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý; Về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • * Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • * Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
    • - Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
    • - Bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • * Về nội dung: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  1. [1.1] Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn ông Hồ Thanh T và ông T đang cư trú tại Quận G; Đây là tranh chấp về ly hôn là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  2. [1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. [1.3] Nguyên đơn là bà Lê Thị Kim L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  4. [1.4] Về phía bị đơn, sau khi cung cấp bản tự khai ngày 26/12/2024, Tòa án nhân dân Quận G đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Do đó, Tòa án không thể hòa giải theo quy định pháp luật và thuộc trường hợp đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo Điểm b Khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Hồ Thanh T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng nên ông T phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc theo những chứng cứ có trong hồ sơ.

[2] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào năm 2010. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 117, quyển số 01/2010, đăng ký ngày 20/9/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 có đủ cơ sở để xác định bà L và ông T là vợ chồng hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim L yêu cầu ly hôn ông Hồ Thanh T vì quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: ông T thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Ông T cũng thừa nhận quá trình sống chung vợ chồng có mâu thuẫn vì cả hai trong lúc cả hai say xỉn có lời qua tiếng lại, lúc nóng giận hay cãi nhau.

Ông T còn tình cảm với bà L nên đề nghị Tòa án cho ông và bà L quay về đoàn tụ, phương án hòa giải đoàn tụ của ông là: vợ chồng cùng nhau vun đắp tình cảm, lo cho con trai; những gì bà L không hài lòng từ trước đến giờ ông hứa sẽ cố gắng khắc phục.

Sau khi ông T đưa ra phương án đoàn tụ, bà L không đồng ý vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T vì quá trình sống chung vợ chồng xảy ra quá nhiều mâu thuẫn đến nay không thể hàn gắn được nữa.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ông T không đồng ý ly hôn, đề nghị hòa giải đoàn tụ nhưng ông T không có các biện pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng, không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa thể hiện sự thiếu quan tâm đến việc xây dựng gia đình, bỏ mặc quan hệ hôn nhân với bà L. Theo quy định tại Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của bà L về nguyên nhân mâu thuẫn làm căn cứ để giải quyết vụ án. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L trình bày trong phần nội dung vụ án có căn cứ để xác định mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng. Mặc khác, qua trình bày của các đương sự về quá trình sống chung đã ly thân đã 03 lần và thực tế hiện nay vẫn sống ly thân. Có đủ cơ sở xác định mối quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà L không đạt được nên bà L yêu cầu ly hôn với ông T.

Xét, quan hệ hôn nhân là dựa trên sự tự nguyện, cả hai vợ chồng phải cùng nhau xây dựng vun đắp trên cơ sở yêu thương nhau, không thể chỉ xuất phát từ một phía ông T. Hiện tại bà L không còn tình cảm vợ chồng với ông T, vợ chồng không thể tiếp tục sống chung.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định về tình nghĩa vợ chồng: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Theo đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn trong mối quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng, trên thực tế không còn phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không còn yêu thương, chia sẻ với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T cũng chỉ là sự ràng buộc về mặt pháp lý sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau. Nên yêu cầu ly hôn của bà L là có căn cứ chấp nhận phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

[3.2] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của bà L có cơ sở xác định: Trong quá trình sống chung bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T có 01 (một) con chung, họ tên là Hồ Thiên L1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 03/4/2011.

Bà L yêu cầu về nuôi con chung như sau: Sau khi ly hôn, bà L đề nghị giao con chung là trẻ Hồ Thiên L1 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà L cấp dưỡng cho trẻ Hồ Thiên L1 mỗi tháng 1.500.000 đồng.

Ông T trình bày nếu trong trường hợp không đoàn tụ được thì ông T đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là trẻ Hồ Thiên L1.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện con chung đang sống với ông T, ông T đang là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và trẻ L1 cũng có nguyện vọng được ở với ông T. Do đó, để ổn định và tạo điều kiện cho trẻ phát triển hài hòa về thể chất lẫn tinh thần đồng thời phù hợp với nguyện vọng của con chung. Hội đồng xét xử giao trẻ Hồ Thiên L1 cho ông Hồ Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị Kim L về việc cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 1.500.000 đồng, thời gian bắt đầu cấp dưỡng là từ tháng 07/2025, cấp dưỡng vào ngày 05 dương lịch hàng tháng.

[3.3] Về tài sản chung: Bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[3.4] Về nợ chung: Bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T xác nhận không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí: Bà Lê Thị Kim L phải chịu án phí ly hôn và án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[5] Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[6] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5; Điều 6; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 70; Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Khoản 20, 24 Điều 3; Điều 19; Khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 110; Điều 116 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 117, quyển số 01/2010, đăng ký ngày 20/9/2010 tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh).
  2. Về con chung: Bà Lê Thị Kim L và ông Hồ Thanh T có 01 (một) con chung, họ tên là: Hồ Thiên L1 (Giới tính: Nam), sinh ngày 03/4/2011.

    Giao con chung là trẻ Hồ Thiên L1 cho ông Hồ Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Lê Thị Kim L cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 (Một triệu năm trăm ngàn) đồng, cấp dưỡng vào ngày 05 dương lịch hàng tháng, bắt đầu thi hành vào tháng 07 năm 2025 cho đến khi phát sinh các căn cứ làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Bà Lê Thị Kim L có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì quyền lợi của con, khi có yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung: Không có.
  4. Về nợ chung: Không có.
  5. Án phí sơ thẩm:
    1. Bà Lê Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo: Biên lai thu tạm ứng án phí ký kiệu BLTU/23P, số 0036784 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), bà Lê Thị Kim L phải chịu, nộp tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
  6. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
  7. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  8. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị Kim L khởi kiện ly hôn ông Hồ Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger