|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-3-2025 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Khánh.
Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Trần Thanh Hoàng.
- - Ông Nguyễn Lâm Tới.
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên tham gia phiên toà: Bà Neàng Sa Men – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “ Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ư, sinh năm 1989;
- Nơi cư trú: Tổ D, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
- - Bị đơn: Anh Trần Văn V, sinh năm 1987;
- Nơi cư trú: Tổ D, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
- ( Chị Ư, anh V có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 08 tháng 01 năm 2025 và lời khai tại Tòa án, chị Nguyễn Thị Ư trình bày:
Chị và anh Trần Văn V quen biết và được sự đồng ý của hai gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới năm 2009 vào đến năm 2012 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay phường T) thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc và chỉ được trong khoảng thời gian ngắn, chị và anh Trần Văn V xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng trong quan điểm sống, thường xuyên cải vã, anh V hay ghen tuôn vô cớ, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Hiện tại chị và anh V vẫn đang sống chung nhà, nhưng không ai nói chuyện với ai, kinh tế tự lập, nay tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn V.
- - Về con chung: Chị và anh Trần Văn V có hai con chung tên Trần Tiến Đ, sinh ngày 15/7/2012 và Trần Tiến T, sinh ngày 18/11/2019 hiện chị và anh V đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung tên Trần Tiến Đ, đồng ý giao cháu Trần Tiến T cho anh V nuôi dưỡng chăm sóc, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không có
Tại phiên Tòa anh Trần Văn V trình bày:
- - Về hôn nhân: Anh V thống nhất với lời trình bày của chị Nguyễn Thị Ư; anh và chị Ư quen biết, tự tìm hiểu và được sự thống nhất của hai gia đình tổ chức lễ cưới năm 2009 vào đến năm 2012 đăng ký kết hôn. Thời thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, khoảng năm 2022 cuộc sống chung của vợ chồng càng ngày có nhiều mâu thuẫn, anh thừa nhận có hành hung đánh đập chị Ư, nguyên nhân là do chị Ư có quan hệ bất chính với người khác (tinh nhắn, điện thoại). Nay chị Ư yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn, lý do anh còn tình cảm với chị Ư
- - Về con chung: Anh và chị Ư có hai con chung tên Trần Tiến Đ, sinh ngày 15/7/2012 và Trần Tiến T, sinh ngày 18/11/2019 khi ly hôn anh đồng ý nuôi dưỡng chăm sóc cháu Trần Tiến T, giao chau Trần Tiến Đ cho chị Ư trực tiếp nuôi dưỡng không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung không có.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
- - Thẩm phán: Được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa sơ thẩm đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử; thư ký ghi biên bản phiên tòa đúng chức năng nhiệm vụ.
- - Người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- + Về hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho Nguyễn Thị Ư được ly hôn với anh Trần Văn V.
- + Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ư được trực tiếp nuôi dưỡng cháu tên Trần Tiến Đ, sinh ngày 15/7/2012 anh Trần Văn V trực tiếp nuôi cháu Trần Tiến T, sinh ngày 18/11/2019, chị Ư và anh V không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ư, anh V xác nhận không có nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên Tòa các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn V là bị đơn, thường trú: Tổ D, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.
[3] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị Ư cho rằng năm 2009 chị và anh V được hai gia đình tổ chức lễ cưới, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn T (nay phường T) thị xã T, An Giang; theo giấy chứng nhận kết hôn số: 01/2012 ngày 25/12/2012. Tại thời điểm kết hôn chị Ư và anh V đã đủ độ tuổi và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là hôn nhân hợp pháp theo qui định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Theo chị Ư cho rằng cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, khoảng năm 2023 giữa chị và anh V phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng trong quan điểm sống, đồng thời anh V hay ghen tuôn vô cớ và bạo lực gia đình, đánh đập chị đồng thời tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân được Ủy ban phường T cung cấp ngày 13/02/2025 nội dung thể hiện anh V có bạo lực gia đình đánh đập chị Ư như chị Ư đã trình bày. Anh Trần Văn V không đồng ý ly hôn cho rằng anh còn tình cảm với chị Ư, nhưng anh và chị Ư không có biện pháp gì để vợ chồng hàn gắn đoàn tụ, trong quá trình hòa giải công bố chứng cứ và tại phiên Tòa án thẩm phán cũng đã phân tích hậu quả của việc ly hôn nhưng chị Ư cương quyết ly hôn, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, nếu tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân thì cũng không đem lại hạnh phúc, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ư được ly hôn với anh V là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ư và anh Trần Văn V có 02 con tên Trần Tiến Đ, sinh ngày 15/7/2012 và Trần Tiến T, sinh ngày 18/11/2019 khi ly hôn chị Ư và anh V thống nhất mỗi người nuôi một cháu, chị Ư trực tiếp nuôi chau Đ, anh V trực tiếp nuôi cháu T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện thỏa thuận của đương sư phù hợp với các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ư và anh V xác định là không có nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Ư khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí theo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 28, Điều 35, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Ư đối với anh Trần Văn V.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ư được ly hôn với anh Trần Văn V.
-
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ư được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Tiến Đ, sinh ngày 15/7/2012. Anh Trần Văn V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trần Tiến T, sinh ngày 18/11/2019 chị Ư và anh V không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Ư, anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ư chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng ) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0017583 ngày 08/01/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mai Văn Khánh |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
