|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HC-ST
Ngày: 14-02-2025
V/v: “Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Đình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi
Ông Bùi Thế Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Phương Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 142/2023/TLST-HC ngày 20/ 12/2023 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HC ngày 11/ 11/2024, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Lê Thị C, sinh năm 1971
Địa chỉ: KP L, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
* Người đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị C:
Ông Lê Doãn T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Khu phố X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ: Khu phố X, phường T, thị xã S - Thanh Hóa
Địa chỉ liên lạc: D C, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
2. Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
Địa chỉ: Số E đường L, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê văn T1 - Chức vụ: Chủ tịch
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Quốc Đ - Chức vụ: Phó chủ tịch UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hoá
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
UBND phường T, tỉnh Thanh Hoá
Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thăng G - Chức vụ: Chủ tịch, vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tùng D - Sinh năm 1993
- Ông Nguyễn Tùng G1 - Sinh năm 1998
Đều trú tại: KP L, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của chủ tịch UBND thành phố S, UBND phường T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tùng D, Nguyễn Tùng G1, người khởi kiện, người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiên (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 12 năm 2023 quá trình giải quyết tại Tòa án, người khởi kiện bà Lê Thị C, người đại diện theo uỷ quyền của bà C trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hữu B (ông B chết năm 2018) là người có quyền sử dụng đất hợp pháp đối với phần đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích là 343m2, thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 06, tại Khu phố L, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BO 925273, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00736 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 12/6/2013 mang tên ông Nguyễn Hữu B, ông Nguyễn Hữu B chết ngày 12/4/2018.
Để thực hiện dự án UBND thành phố S đã thu hồi đất của gia đình bà; Theo Quyết định thu hồi đất số: 832/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Hữu B, sử dụng đất tại phường T, thành phố S để thực hiện dự án: Khu đô thị Q; diện tích đất thu hồi 123m2 đất ở tại đô thị (ODT) của ông nguyễn hữu B thuộc thửa 117, tờ bản đồ số 24 tại phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 07/3/2023 UBND thành phố S ra quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T, thành phố S, để thực hiện dự án: Khu đô thị Q biển, thành phố S, số: 833/QĐ-UBND ngày 07/2/2023.
Trên thực tế thì toàn bộ diện tích đất và căn nhà của gia đình bà là 343,6m2 đã bị thu hồi hết thuộc diện giải toả trắng. Tuy nhiên căn cứ vào quyết thu hồi phần diện tích đất 123m2 nên UBND thành phố S chỉ bồi thường và cấp đất tái định cư cho gia đình bà 01 nền đất.
Ngoài ra trong bảng chiết tính bồi thường thì UBND thành phố S lại xác định phần đất ở bị thu hồi và được bồi thường là 200m2, nên được bồi thường bằng tiền là 786.000.000đ và số tiền này được cấn trừ khi nhận nền đất tái định cư, phần đất còn lại là 143,6m2 được bồi thường loại đất nông nghiệp với giá 30.000đ/1m2 với số tiền 4.302.000đ.
Trong khi toàn bộ phần diện tích đất nêu trên, gia đình bà đã sử dụng ổn định từ trước ngày 18/12/1980. Vì nguồn gốc phần đất này do cha mẹ chồng bà đã quản lý sử dụng ổn định trước khi chuyển quyền cho vợ chồng bà quản lý sử dụng và được cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì toàn bộ phần đất nêu trên gia đình bà đã xây nhà ở và các công trình phục vụ sinh hoạt cuộc sống hàng ngày, không còn phần đất trống nào để trồng cây lâu năm như trong GCNQSDĐ thể hiện.
Bà cho rằng việc UBND thành phố S thu hồi toàn bộ diện tích đất của gia đình bà là 343,6m2, nhưng trong quyết định thu hồi chỉ thể hiện diện tích bị thu hồi là 123m2 là không đúng thực tế đất bị thu hồi. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà. Ngoài ra toàn bộ diện tích đất nêu trên gia đình bà đã xây nhà ở và sử dụng ổn định từ ngày 18/12/1980 cho đến nay, cho nên trong trường hợp này khi thu hồi phải bồi thường toàn bộ diện tích đất nêu trên là đất ở cho gia đình bà mới phù hợp thực tế và đúng quy định của pháp luật.
Không đồng ý với việc thu hồi và xác định loại đất để bồi thường của UBND thành phố S đối với gia đình mình, bà Lê Thị C khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá và giữ nguyên những nội dung sau đây:
- Đề nghị huỷ toàn bộ Quyết định thu hồi đất số 832/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 của UBND thành phố S về thu hồi đất và yêu cầu ban hành quyết định thu hồi đất với toàn bộ diện tích đất ở là 343,6m2, thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ khu phố T, phường T, thành phố S.
- Huỷ toàn bộ Quyết định hành chính số 833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 của phê duyệt và chi trả bồi thường GPMB. Theo bà yêu cầu UBND thành phố S phải ban hành quyết định chi trả bồi thường cho toàn bộ diện tích đất bị thu hồi là 343,6m2, thuộc thửa đất số 64, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ khu phố T, phường T, thành phố S là đất ở.
Ngày 03/01/2025 Toà án nhận được đơn khởi kiện bổ sung và bà cho rằng Quyết định số: 5188/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án: Khu Đ biển, thành phố S và Quyết định hành chính số: 5189/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành pgố Sầm Sơn về phê duyệt và chi trả bồi thường, hỗ trợ GPMB của ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án: khu đô thị Q biển, thành phố S. Bà khảng định những quyết định này bà không được bàn giao, không được biết cho đến khi Toà án cung cấp tài liệu chứng cứ.
Như vậy ngoài các quyết định gia đình bà đã nhận thì quá trình giải quyết, trong đó quyết định số: 5188/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Hữu B diện tích là 343,6m2, thuộc thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15, trong đó diện tích đất ở là 200m2, diện tích đất nông nghiệp là 143,4m2 và Quyết định số: 5189/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành phố S về phê duyệt và chi trả bồi thường, hỗ trợ GPMB cho gia đình bà đối với diện tích đất bị thu hồi là 343,6m2, thuộc thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15, trong đó diện tích đất ở là 200m2, diện tích đất nông nghiệp là 143,4m2 với tổng số tiền là 1.115.255.000đ.
Nếu căn cứ nội dung các quyết định này thì tổng diện tích đất của gia đình bà bị thu hồi là 343,6m2 + 123,0m2 = 466,6m2. Trong khi đó UBND thành phố S chỉ mới bồi thường cho gia đình bà 343,6m2; phần diện tích đất chưa bồi thường là 123m2, trong khi bà đã khởi kiện yêu cầu UBND thành phố S phải xem xét bồi thường toàn bộ diện tích đất 343,6m2 là đất ở. Bà yêu cầu:
- Tuyên huỷ toàn bộ Quyết định số: 5188/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án: Khu Đ biển, thành phố S.
- Huỷ Quyết định số: 5189/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành pgố Sầm Sơn về phê duyệt và chi trả bồi thường, hỗ trợ GPMB của ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án: khu đô thị Q biển, thành phố S.
- Tuyên buộc UBND thành phố S xem xét bồi thường đất ở đói với phần đất diện tích 143,6m2 thuộc thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BO925273, số vào sổ caáp GCN: CH00736 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 12/6/2013 mang tên ông Nguyễn Hữu B.
- Ngoài ra tuyên buộc UBND thành phố S chi trả bồi thường đối với phần đất có diện tíchlà 123,0m2 thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 24, tại PK . T, phường T, thành phố S, theo Quyết định số 832/QĐ- UBND ngày 07/3/2023 của UBND thành phố S.
* Quan điểm của người bị kiện (UBND thành phố S):
Tại biên bản làm việc ngày 02/01/2025 về việc làm rõ nội dung khởi kiện của bà Lê Thị C tại phường T: xác định: Ông Nguyễn Hữu B (vợ là Lê Thị C) sử dụng thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15, diện tích 343,4m2 đã được UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BO925273, số vào sổ cấp GCN: CH00736 ngày 12/6/2013, tại thửa đất số 64, tờ bản đồ 06, diện tích 343,6m2 mang tên ông Nguyễn Hữu B, tại phường T, thành phố S. Trong đó 200m2 đất ở tại đô thị (ODT); 143,6m2 đất trồng cây lâu năm (CLN).
Ngày 04/9/2021 UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 5189/QĐ-UBND về việc thu hồi đất; Quyết định số 5189/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ôbng Nguyễn Hữu B, sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án Khu đô thị Q. Theo đó thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Hữu B diện tích 343,4m2, tại thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15 (trong đó: đất ở 200m2, đất trồng cây lâu năm 143,4m2). Ngày 14/9/2021 gia đình đã nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng theo Quyết định số 5189/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành phố S.
Về nội dung khởi kiện liên quan đến Quyết định số 832/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định 833/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B (sinh năm 1978, vợ là Lê Thị Ngọc B1), tại phường T với diện tích 123m2, tại thửa đất số 117, tờ bản đồ số 24.
Tại văn bản số 375/UBND-TNMT ngày 23/01/2025 thể hiện:
Thực hiện dự án khu đô thị Q, ông nguyễn Hữu B bị thu hồi thửa đất.
Thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15, diện tích 343,4m2 đã được UBND thành phố S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO925273, số vào sổ cấp giấy CH00736.QĐ1094/QĐ-UBND ngày 12/6/2013, tại thửa đất số 64, tờ bản đồ số 06, diện tích 343,6m2; trong đó 200m2 đất ở tại đô thị (ODT); 143,6m2 đất trồng cây lâu năm (CLN).
Căn cứ Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của chính phủ quy định bồi thường, hỗ trợ về đất khi nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất.
“Trường hợp thu hồi đất mà diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trong giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1,2 và 3 Điều 100 của luật đất đai và Điều 18 của Nghị định43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật Đất đai, thì được bồi thường theo quy định sau đây.
- Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhỏ hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
- Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất do việc đo đạc trước đây thiếu chính xác hoặc do khi kê khai đăng ký trước đây người sử dụng đất không kê khai hết diện tích nhưng toàn bộ ranh giới thửa đất đã được xác định và không thay đổi, không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề, không đo lấn, chiếm thì bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
- Nếu diện tích đất đo đạc thực tế nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất, được UBND xã, phường (sau đây gọi là UBND cấp xã) nơi có đất xác nhận diện tích nhiều hơn là do khai hoang hoặc nhận chuyển nhượng của người sử dụng đất trước đó, đất đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp thì được bồi thường theo diện tích đo đạc thực tế.
- Đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất lấn chiếm nhiều hơn do hành vi lấn, chiếm mà có thì không được bồi thường về đất.
- Việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất trong trường hợp đất thu hồi quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì thực hiện theo quy định của luật đất đai và Nghị định này.”
Ngày 04/9/2021 UBND thành phố S ban hành Quyết định số 5188/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 5189/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường GPMB cho ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T, thực hiện dự án Khu đô thị Q. Theo đó thu hồi và bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn Hữu B diện tích 343,4m2 tại thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15 (trong đó: đất ở 200m2; đất trồng cây lâu năm 143,4m2) là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Việc bà Lê Thị C (vợ ông Nguyễn Hữu B) khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ Quyết định số 832/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 về việc thu hồi đất và Quyết định số 833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B (vợ là Lê Bích N) khi chưa được uỷ quyền là không có cơ sở;
* Quan điểm của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (UBND phường T) tại văn bản số: 2478/UBND-ĐC ngày 17/10/2024 trình bày:
Thửa đất của ông Nguyễn Hữu B giấy theo chứng nhận quyền sử dụng đất số BO925273, số vào sổ cấp giấy CH00736 do UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp ngày 12/6/2013, được UBND thành phố S thu hồi đất theo Quyết định số 5188/QĐ-UBND ngày 04/9/2021, về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S và Quyết định số 5189/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T, thành phố S để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S.
Việc bà Lê Thị C đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá tuyên huỷ toàn bộ Quyết định số 832/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Hữu B và Quyết định số 833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 của UBND thành phố S về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T, thực hiện dự án Khu đô thị Q là không có căn cứ.
Lý do Quyết định số 832/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 và Quyết định số 833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023của UBND thành phố S là của ông Nguyễn Hữu B thuộc thửa đất đường T, tổ dân phố T, phường T, thành phố S.
* Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tùng D, anh Nguyễn Tùng G1 (giống ý kiến trình bày của người khởi kiện bà Lê Thị C)
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán:
Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án, tổ chức đối thoại, ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến tại phiên tòa sơ thẩm theo đúng quy định của Luật tố tụng hành chính 2015.
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa:
Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một thẩm phán, hai hội thẩm nhân dân là phù hợp với quy định tại Điều 154, Điều 155; thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại điều 167 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
+ Đối với người khởi kiện: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay người khởi kiện đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 55, Điều 56; Điều 153; Điều 157 Luật tố tụng hành chính 2015.
+ Đối với người bị kiện: Chấp hành đúng các quy định tại Điều 55, Điều 57, Điều 153; Điều 157 Luật tố tụng hành chính 2015.
+ Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chấp hành đúng các quy định tại Điều 58; Điều 153; Điều 157 Luật tố tụng hành chính 2015.
- Về về quan điểm nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm khoản 1 Điều 123; điểm a khoản 2 Điều 116, điểm g,h khoản 1 Điều 143; khoản 2 Điều 165 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm do Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá thụ lý số 142/2023/TLST-HC ngày 20/12/2023.
- Về án phí: Bà Lê Thị C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ; ý kiến của Kiểm sát viên và các bên đương sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng:
[1] Xét yêu cầu huỷ quyết định số 5188, 5189/QĐ-UBND ngày 04/9/2021 của UBND thành phố S, tỉnh Thanh Hoá về thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB của ông Nguyễn Hữu B (vợ là bà Lê Thị C) để thực hiện dự án: Khu đô thị Q, thành phố S.
- Về quyền khởi kiện: Bà Lê Thị C khởi kiện các Quyết định hành chính số 5188,5189/QĐ-UBND nggày 04/9/2021 của UBND thành phố S. Bà C cho rằng các quết định nêu trên của UBND thành phố S là trái pháp luật, đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà nên bà C có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Về đối tượng, thẩm quyền và thời hiệu giải quyết vụ án:
- Về thẩm quyền thụ lý thụ lý giải quyết vụ án: Các Quyết định hành chính bị khiếu kiện của UBND thành phố S ban hành là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền của Toà hành chính Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
- Về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính: Bà Lê Thị C khởi kiện đề nghị huỷ Quyết định số 5188,5189/QĐ-UBND nggày 04/9/2021 của UBND thành phố S về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B (vợ là bà Lê Thị C).
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thấy rằng:
Thực hiện dự án đô thị Quảng trường biển thành phố S, gia đình ông Nguyễn Hữu B và bà Lê Thị C có thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15, diện tích 343,4m2, đã được UBND thành phố S cấp GCNQSDĐ số BO925273, số vào sổ cấp giấy CH00736.QĐ-UBND ngày 12/6/2013, tại thửa số 64, tờ bản đồ số 06, diện tích 343,6m2 mang tên ông Nguyễn Hữu B, trong đó 200m2 đất ở tại đô thị (ODT); 143,6m2 đất trồng cây lâu năm (CLN).
Ngày 04/9/2021 UBND thành phố S ban hành quyết định số 5188/QĐ-UBND về việc thu hồi đất và Quyết định số 5189/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường và hỗ trợ GPMB cho ông Nguyễn Hữu B sử dụng đất tại phường T, thực hiện dự án Khu đô thị Q. Theo đó thu hồi và bồi thường cho ông Nguyễn Hữu B diện tích 343,4m2, tại thửa đất sso 74, tờ bản đồ số 15 (trong đó đất ở là 200m2, đất trồng cây lâu năm 143,4m2), gia đình ông Lê Hữu B2, bà lê Thị C được phê duyệt bồi thường, hỗ trợ số tiền là 1.115.225.000đ (trong đó: bồi thường về đất 790.302.000đ; bồi thường về tài sản – vật kiến trúc 234.154.000đ; bồi thường về cây cối - hoa màu 7.250.000đ. hỗ trợ khác 83.549.000đ).
Ngày 15/9/2021 bà Lê Thị C đại diện cho gia đình đã nhận số tiền 1.115.225.000đ, tại phiếu chi ngày 15/9/2021 của Hội đồng giải phóng mặt bằng thành phố S; Người nhận kinh phí bồi thường, hỗ trợ GPMB (theo quyết định số 5189-UBND ngày 04/9/2021), giấy nhận tiền và cam kết trách nhiệm giải toả toàn bộ công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu ra khỏi khu vực được bồi thường GPMB để đơn vị thi công thực hiện dự án.
Ngày 17/10/2023 UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3560/QĐ-UBND veè việc giao đất tái định cư cho ông Nguyễn Hữu B (vợ là Lê Thị C) có đất ở thu hồi tại phường T để thực hiện dự án Khu đô thị Q, thành phố S. Gia đình ông nguyễn Hữu B được giao 2 lô đất tái định cư, với tổng diện tích 200m2. Cụ thể: Lô TĐC 4a:09 diện tích 100m2; Lô TĐC 4a:10 diện tích 100m2, tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư X khu B, phường Q, thành phố S.
Như vậy, Ngày 15/9/2021 bà Lê Thị C đã tiếp cận và biết được các quyết định của UBND thành phố S vào tháng 9/2021; đến thời điểm tháng 10/2023 bà chín có đơn khởi kiện gửi đến Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá là đã quá 1 năm kể từ ngày nhận hoặc biết các quyết định hành chính trên.
Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện vụ án đã kết thúc, bà Lê Thị C mất quyền khởi kiện vụ án “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
2. Xét yêu cầu huỷ Quyết định số 832,833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 của UBND thyành phố S về việc thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB của ông Nguyễn Hữu B để thực hiện sự án: Khu đô thị Q, thành phố S.
Theo các tài liệu có trrong hồ sơ vụ án thấy rằng:
Ngày 07/3/2023 UBND thành phố S ban hành quyết định số 832,833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 của UBND thyành phố S về việc thu hồi đất và phê duywệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB của ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1978 (có vợ là bà Lê Bích N), thu hồi 123m2 đất ở, thuộc thửa đất số 117, tờ bản đồ số 24, theo trích đo bản đồ địa chính trường T2, thành phố S năm 2018 (thửa đất của ông Nguyễn Hữu B đã được UBND thị xã S cấp GCNQSDĐ số BU645646 nggày 30/9/2014).
Việc bà Lê Thị C khởi kiện Quyết định số 832,833/QĐ-UBND ngày 07/3/2023 của UBND thành phố S, khi chưa có sự uỷ quyền của ông nguyễn Hữu B, sinh năm 1978 (vợ là bà Lê Bích N) là không có quyền khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 123; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g,h khoản 1 Điều 143; khoản 2 Điều 165 Luật tố tụng hành chính năm 2015, đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ.
[3] Về án phí: Bà Lê Thị C phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
*. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 123; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g,h khoản 1 Điều 143; khoản 2 Điều 165 Luật tố tụng hành chính năm 2015, khoản 1 Điều 32 Nghị Quyết 326/2016/UBNTQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- Xử: Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 142/2023/TLST-HC ngày 20/12/2023 về việc “Về việc khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
- Về án phí: Bà Lê Thị C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm, số tiền trên được trừ vào số tiền 300.000đ bà C đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0000029 ngày 20/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định của pháp luật ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Đình Thuận |
Bản án số 19/2025/HC-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về khiếu kiện qđhc trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 19/2025/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện QĐHC trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện QĐHC UBND thành phố Sầm Sơn trong lĩnh vực quản lý đất đai
