TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG Bản án số: 19/2025/DS-ST Ngày 30-9-2025 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Khúc Thế Hoài
Bà Trần Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Cẩm Hương - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Khắc Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 22/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 04 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 18/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB); địa chỉ trụ sở: Số D (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của Toà nhà) và số D L, phường B, quận A (nay là phường S) thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Văn H – Cán bộ hiện trường (Theo Giấy ủy quyền số 10/2025/UQ-OCB ngày 10 tháng 01 năm 2025); có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985; đăng ký thường trú: Số F Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng (nay là số 06/12/389 Chợ H1, phường L, thành phố Hải Phòng); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 10 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P (sau đây gọi tắt là O) trình bày:
Ngày 16/6/2022 O cho ông Nguyễn Văn T vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 0181/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 16/6/2022 với số tiền OCB đã giải ngân là 410.000.000 đồng nội dung như sau: Số tiền vay: 410.000.000 đồng. Mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng bán hàng số N000503062022002 ký kết ngày 03/6/2022 giữa Công ty TNHH T1 và ông Nguyễn Văn T. Thời hạn vay: 180 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất và phương thức tính lãi: Tiền lãi được tính trên cơ sở một năm có 365 ngày. Số tiền lãi phải trả = (Số dư nợ thực tế tính lãi)x (số ngày thực tế của kỳ tính lãi)x(lãi suất(%/năm)):365; Tiền lãi được tính từ ngày giải ngân khoản cấp tín dụng theo lựa chọn của O phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành; lãi suất cho vay trong hạn: Theo thoả thuận tại khế ước nhận nợ; lãi suất cho vay được điều chỉnh theo thoả thuận tại Khế ước nhận nợ. OCB được quyền ấn định lãi suất cho vay tại Khế ước nhận nợ cho các kỳ điều chỉnh lãi suất khi xảy ra sự kiện biến động thị trường dẫn đến (i) lãi suất cho vay sau khi điều chỉnh thấp hơn lãi suất cho vay tối thiểu theo quy định pháp luật; (ii) không tồn tại hoặc không thể xác định được lãi suất cơ sở, lãi suất tham chiếu để điều chỉnh lãi suất theo thoả thuận tại Khế ước nhận nợ. Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn.
Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng mở thẻ tín dụng đã ký ngày 15/6/2023: Hạn mức thẻ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Mục đích vay: Tiêu dùng. Lãi suất: Theo quy định của O: Khách hàng vay vốn từ 06/2022, tổng số tiền vay 410.000.000 đồng, mục đích vay là: Thanh toán tiền mua xe theo hợp đồng bán hàng số N000503062022002 ký kết ngày 03/6/2022 giữa Công ty TNHH T1 và ông Nguyễn Văn T. Từ tháng 9 năm 2024, khách hàng bắt đầu chậm thanh toán gốc và lãi hàng tháng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là: 01 xe ô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát: 15A-987.48 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15 051419 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 10/06/2022 đứng tên ông Nguyễn Văn T. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0181/2022/BĐ ngày 16/06/2022. Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Sau khi ký kết, OCB đã thực hiện giải ngân cho ông Nguyễn Văn T đúng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Văn T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ dẫn đến khoản vay của ông Nguyễn Văn T bị phát sinh nợ quá hạn kể từ tháng 9 năm 2024. Kể từ khi khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, OCB đã nhiều lần làm việc và tạo điều kiện cho ông Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ trả nợ thanh toán các khoản nợ nhưng ông Nguyễn Văn T không thực hiện do vậy, tại đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2024 OCB đề nghị Toà
án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Văn T phải trả ngay cho OCB toàn bộ khoản nợ tính đến ngày 30/9/2025 là 410.715.350 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, ba trăm năm mươi đồng, trong đó dư nợ khoản vay là 327.568.221 đồng: nợ gốc là 283.072.806 đồng, nợ lãi trong hạn là 36.477.615 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.084.023 đồng, lãi chậm trả 1.933.777 đồng; nợ thẻ tín dụng là 83.147.129 đồng trong đó nợ gốc thẻ là 50.000.000 đồng, nợ lãi thẻ là 33.147.129 đồng. Tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn T thanh toán xong khoản nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký. Trong trường hợp ông Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho O, đề nghị Toà tuyên OCB được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản bảo đảm trên để xử lý thu hồi nợ là 01 xe ô tô hiệu HONDA, biển kiểm soát: 15A-987.48 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15 051419 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 10/06/2022 đứng tên ông Nguyễn Văn T. Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với O. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán hết nợ với O. Về án phí, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng có đơn đề nghị từ chối thẩm định tài sản do tài sản sau khi thế chấp đã bàn giao lại cho ông Nguyễn Văn T ngân hàng chỉ giữ đăng ký xe nên hiện tại ngân hàng không xác định được xe biển kiểm soát 15A-987.48 đang ở đâu nên không thẩm định được.
Về phía bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án nhưng đều vắng mặt không lý do và không gửi các văn bản nêu ý kiến của mình về các yêu cầu của nguyên đơn.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán. Về việc quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng). Về việc nhân đơn khởi kiện, thụ lý vụ án và ra thông báo về việc thụ lý vụ án, thời hạn xử lý đơn khởi kiện đúng quy định tại các Điều 191, 195, 196 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tiếp nhận, yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ và công khai tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát; việc cấp tống đạt văn bản tố tụng và tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử tại phiên toà, đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định tại các điều 26, 35, 39, 48, 49, 97, 203, 220, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về
việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 117, 119, 274, 275, 278, 280, 292, 293, 298, 317, 320, 323, 398, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm trả khoản nợ cho OCB tính đến ngày 10/9/2025 với số tiền là: 410.715.350 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, ba trăm năm mươi đồng, trong đó dư nợ khoản vay là 327.568.221 đồng: nợ gốc là 283.072.806 đồng, nợ lãi trong hạn là 36.477.615 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.084.023 đồng, lãi chậm trả 1.933.777 đồng; nợ thẻ tín dụng là 83.147.129 đồng trong đó nợ gốc thẻ là 50.000.000 đồng, nợ lãi thẻ là 33.147.129 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án ông Nguyễn Văn T phải chịu khoản tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng. Trường hợp ông Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho O, OCB đề nghị xử lý tài sản theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm, số tiền thu được dùng để trả khoản nợ còn thừa, thì số tiền còn thừa được trả cho ông Nguyễn Văn T. Trả lại cho OCB số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định là 8.655.400 đồng (bằng chữ: Tám triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng). Ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản. Bị đơn ông Nguyễn Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tại: Số F Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng (nay là số 06/12/389 Chợ H1, phường L, thành phố Hải Phòng). Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (nay là Toà án nhân dân khu vực 5 – Hải Phòng).
- Về tố tụng dân sự:
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ
khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung:
[3] Về hình thức và nội dung Hợp đồng tín dụng: O và ông Nguyễn Văn T đã kí Hợp đồng tín dụng: Số 0181/2022/HĐTD-OCB-CN ngày 16/6/2022, Khế ước nhận nợ - Khách hàng cá nhân số 0181/2022/KUNN-OCB-CN ngày 18/6/2022. Xét thấy, hình thức và nội dung Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ - Khách hàng cá nhân trên đều phù hợp với quy định tại các điều 117, 119, 274, 275, 398, 401, 463 của Bộ luật Dân sự 2015 và các Điều 100, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
[4] Về hình thức nội dung của Hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo cho việc thực hiện Hợp đồng cho vay nêu trên O và ông Nguyễn Văn T đã ký kết Hợp đồng thế chấp xe ô tô số 0181/2022/BĐ ngày 16/6/2022. Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng hợp lệ, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Vì vậy, hình thức và nội dung của Hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định tại các Điều 292, 293, 298, 317 Bộ luật dân sự năm 2015.
[5] Về việc thực hiện hợp đồng: Sau khi kí kết hợp đồng cho vay OCB đã thực hiện đúng nghĩa vụ cho vay theo thoả thuận trong Hợp đồng. Việc này được chứng minh bằng các giấy nhận nợ, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của nguyên đơn tại phiên toà. Ông Nguyễn Văn T đã vay tiền của O nhưng đến hạn trả nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi theo thoả thuận và cam kết trong Hợp đồng tín dụng, mặc dù OCB đã nhiều lần đôn đốc. Vì vậy, ông Nguyễn Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các thoả thuận đã kí kết tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ - Khách hàng cá nhân quy định tại các Điều 280, 466 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Về các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[6] Tính đến ngày 30/9/2025 (ngày mở phiên toà) ông Nguyễn Văn T còn nợ OCB tổng số tiền là: 410.715.350 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, ba trăm năm mươi đồng, trong đó dư nợ khoản vay là 327.568.221 đồng: nợ gốc là 283.072.806 đồng, nợ lãi trong hạn là 36.477.615 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.084.023 đồng, lãi chậm trả 1.933.777 đồng; nợ thẻ tín dụng là 83.147.129 đồng trong đó nợ gốc thẻ là 50.000.000 đồng, nợ lãi thẻ là 33.147.129 đồng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả nợ những khoản nợ này, phía nguyên đơn đã trình bày bằng văn bản xuất trình tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng từ thanh toán nợ của O đã được xem xét đối chiếu tại phiên toà. Bởi vậy, có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu trả nợ của nguyên đơn.
[7] Ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm trả nợ cho OCB tính đến ngày 30/9/2025 (ngày xét xử), trong đó dư nợ khoản vay là 327.568.221 đồng: nợ gốc là 283.072.806 đồng, nợ lãi trong hạn là 36.477.615 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.084.023 đồng, lãi chậm trả 1.933.777 nợ thẻ tín dụng là 83.147.129 đồng trong đó nợ gốc thẻ là 50.000.000 đồng, nợ lãi thẻ là 33.147.129 đồng. Tổng số ông Nguyễn Văn T phải trả cho O là: 410.715.350 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, ba trăm năm mươi đồng).
[8] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ: Căn cứ vào Hợp đồng thế chấp tài sản số 0181/2022/BĐ ngày 16/6/2022, số công chứng 3520/2022 quyển số 01/2020 TP/CC-SCC-HĐGD ký kết giữa OCB và ông Nguyễn Văn T ngày 16/6/2022 tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng và lời khai của nguyên đơn tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở xác định, tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng cho vay là: 01 xe ô tô hiệu HONDA, biển kiểm soát: 15A-987.48 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15 051419 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 10/06/2022 đứng tên ông Nguyễn Văn T. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Bởi vậy, trường hợp ông Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ đúng nghĩa vụ trả nợ cho OCB thì nguyên đơn được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm nêu trên.
[9] Trường hợp xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ số tiền còn nợ thì ông Nguyễn Văn T phải tiếp tục trả số tiền còn nợ cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm, số tiền thu được dùng để trả khoản nợ còn thừa, thì số tiền còn thừa được trả cho ông Nguyễn Văn T.
- Về án phí:
[10] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.655.400 đồng (bằng chữ: Tám triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng), (Theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003328 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 08/4/2025)
[11] Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.428.614 đồng (Bằng chữ: Hai mươi triệu, bốn trăm hai mươi tám nghìn, sáu trăm mười bốn đồng).
- Về quyền kháng cáo:
[12] Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 48, 49, 144, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 117, 119, 274, 275, 278, 280, 292, 293, 298, 317, 320, 323, 398, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 16 Điều 4 và các Điều 100, 103, 107 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần P đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T.
- Buộc ông Nguyễn Văn T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng O toàn bộ số tiền gốc và lãi tính đến ngày 30/9/2025 là: 410.715.350 đồng (Bốn trăm mười triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, ba trăm năm mươi đồng, trong đó dư nợ khoản vay là 327.568.221 đồng: nợ gốc là 283.072.806 đồng, nợ lãi trong hạn là 36.477.615 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.084.023 đồng, lãi chậm trả 1.933.777 đồng; nợ thẻ tín dụng là 83.147.129 đồng trong đó nợ gốc thẻ là 50.000.000 đồng, nợ lãi thẻ là 33.147.129 đồng.
- Về việc trả lãi sau khi xét xử: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên đã thảo thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật ông Nguyễn Văn T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng O có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại tài sản thế chấp cho khoản vay để xử lý, thu hồi nợ của ông Nguyễn Văn T: Tài sản thế chấp theo số 0181/2022/BĐ ngày 16/6/2022, số công chứng 3520/2022 quyển số 01/2020 TP/CC-SCC-HĐGD ký kết giữa OCB và ông Nguyễn Văn T ngày 16/6/2022 tại Văn phòng C1, thành phố Hải Phòng. Bao gồm: 01 xe ô tô hiệu HONDA, biển kiểm soát: 15A-987.48 theo giấy Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 15 051419 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 10/06/2022 đứng tên ông Nguyễn Văn T.
- Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho ngân hàng O thì ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm số tiền thu được dùng để trả khoản nợ còn thừa, thì số tiền còn thừa được trả cho ông Nguyễn Văn T.
- Về án phí: Trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.655.400 đồng (Tám triệu, sáu trăm năm mươi lăm nghìn, bốn trăm đồng), (Theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003328 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 08/4/2025). Buộc ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 20.428.614 đồng (Hai mươi triệu, bốn trăm hai mươi tám nghìn, sáu trăm mười bốn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trịnh Khắc Thịnh |
Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 19/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng OCB - Nguyễn Văn T
