|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/DS-ST |
Ngày 26/03/2025 |
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Hợi
Bà Nguyễn Thị Liên
Thư ký phiên toà: Bà Hạp Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2024/TLST-DS ngày 30/12/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-DS ngày 07/02/2025 giữa:
Nguyên đơn: Anh Vũ Kim T, sinh năm 1990. Có mặt
Trú tại: phòng A, tòa N chung cư C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh T: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1976, T1 tại: Khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 3448, quyển số 02/2024 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/11/2024). Vắng mặt.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992. Vắng mặt.
Trú tại: Ngõ H, phố N, T (nay thuộc Tiền N), thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là anh Vũ Kim T trình bày: Tôi và Nguyễn Thị H có quan hệ quen biết. Ngày 28/5/2024 anh có cho chị H vay 400.000.000đ bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản. Tài khoản chuyển: 0967596326 Ngân hàng V1, tên tài khoản là Vũ Kim T; Tài khoản nhận: số tài khoản 5555666626 Ngân hàng T2, chủ tài khoản Nguyễn Thị H; Mục đích vay tiền: chị H vay tiền để đáo hạn ngân hàng.
Khi vay hai bên không lập thành hợp đồng, thỏa thuận lãi suất 3.000đ/1.000.000 đ/ngày = 108%/năm = 9%/tháng; Thời hạn vay: 05 ngày từ 28/5/2024 đến 01/6/2024.
Chị H trả tiền gốc và lãi cho anh qua hình thức chuyển khoản qua tài khoản 0967596326 Ngân hàng V1, tên tài khoản là Vũ Kim T.
Chị H đã trả cho anh tiền gốc như sau: ngày 15/6/2024 trả 180.000.000đ; ngày 12/7/2024 trả 50.000.000đ. Tổng cộng chị H đã trả anh 230.000.000đ tiền gốc.
Chị H trả anh tiền lãi như sau: ngày 10/6/2024 trả 14.100.000đ; ngày 25/6/2024 trả 6.600.000 đ. Tổng số tiền lãi chị H đã trả là: 20.700.000đ tiền lãi.
Từ ngày 12/7/2024, chị H không trả tiền cho anh. Anh có liên hệ, đến nhà chị H yêu cầu chị H trả tiền nhưng chị H vẫn không trả.
Anh xác định, số tiền anh cho chị H vay là tiền riêng của cá nhân, không liên quan đến gia đình anh.
Vì vậy, anh yêu cầu chị H trả lại cho anh tiền gốc còn nợ là 170.000.000đ và tiền lãi tạm tính đến ngày 13/01/2025 là 17.000.000đ, yêu cầu chị H tiếp tục trả lãi cho anh theo quy định pháp luật.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn V trình bày: Đây là hợp đồng vay tài sản, không có thỏa thuận về việc phân chia lợi nhuận và phương thức kinh doanh. H đã vay của T 400.000.000 đồng, đã trả 230.000.000 đồng và lãi, còn lại 170.000.000 đồng và lãi. Đề nghị Tòa án áp dụng điều 466, 463 BLDS buộc H trả lại T 170.000.000 đồng và lãi theo quy định pháp luật.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Vũ Kim T có quan hệ quen biết, làm ăn chung từ năm 2022, giao dịch nhiều lần. Có khách hàng nào cần đáo hạn ngân hàng thì anh T và chị chung tiền cho khách hàng vay để đáo hạn ngân hàng
Ngày 28/5/2024, có khách hàng đến hạn trả tiền ngân hàng với số tiền 800.000.000 đồng. T có hỏi chung vốn với chị để cho khách hàng vay tiền đáo hạn ngân hàng. Sau đó, T có chuyển khoản cho chị 400.000.000đ bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản: Tài khoản chuyển: 0967596326 Ngân hàng V1, tên tài khoản là Vũ Kim T. Tài khoản nhận: số tài khoản 5555666626 Ngân hàng T2, chủ tài khoản Nguyễn Thị H. Mục đích vay tiền: T chung tiền với chị để đáo hạn ngân hàng. Khi chuyển tiền cho chị thì T và chị không có thỏa thuận gì với nhau về việc thời hạn trả gốc, lãi. Chỉ thỏa thuận cắt phí với nhau từ 3 đến 5 ngày. Chậm ngày nào thì khách hàng phải chịu phí ngày đấy.
Từ khi vay đến nay, chị đã trả cho T 230.000.000đ tiền gốc và 20.700.000đ tiền lãi như anh T trình bày là đúng. Tuy nhiên, đây là tiền lãi mà khách hàng trả cho T được hưởng, chị chỉ là người trung gian chuyển tiền cho T. Chị không vay tiền của T, đây là tiền T chuyển cho chị để cùng làm ăn chung với nhau. Vì vậy, đây không phải là giao dịch vay tiền. Giữa chị, T và khách hàng đến hạn đáo hạn ngân hàng không có văn bản thỏa thuận gì với nhau, tôi và T không biết khách hàng là ai. Giữa chị và T không có văn bản thỏa thuận gì với nhau về việc chung vốn cho khách hàng vay tiền đáo hạn ngân hàng. Từ ngày 12/7/2024, chị không chuyển tiền cho T vì khách hàng không trả tiền cho chị khoản vay này. Chị xác định chị không vay tiền của T, đây là tiền 2 bên làm ăn chung. Số tiền gốc của T còn lại là 170.000.000đ, khi nào khách hàng trả tiền cho chị thì chị sẽ trả lại cho T cả tiền lãi và gốc.
Tại phiên tòa phía nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc: Buộc chị H phải trả anh số tiền lãi của nợ gốc là 170.000.000 đồng (tính từ ngày 13/7/2024 đến ngày 13/01/2025) là 17.000.000 đồng. Anh Tú đề nghị trừ số tiền lãi chị H đã trả anh là 20.700.000₫ vào nợ gốc, do đó anh T yêu cầu chị H phải trả anh 149.300.000đ nợ gốc.
Bị đơn là chị Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ hai lần, chị H xin xét xử vắng mặt.
Kết thúc phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà đã phát biểu về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà và các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 217, 244 BLTTDS; các Điều 463, 464, 466 BLDS, Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, Nghị quyết 01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả anh T số tiền nợ gốc là 149.300.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Buộc chị H phải trả anh số tiền lãi chậm thanh toán của nợ gốc là 170.000.000 đồng (tính từ ngày 13/7/2024 đến ngày 13/01/2025) với lãi suất chậm thanh toán 20%/năm là 17.000.000 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo quy định.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sợ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Anh Vũ Kim T yêu cầu chị Nguyễn Thị H phải trả anh số tiền gốc 170.000.000 (một trăm bảy mươi triệu) đồng và lãi suất kể từ ngày 08/11/2024 đến nay theo quy định pháp luật. Chị Nguyễn Thị H trú tại Khu E phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh đã thụ lý, giải quyết vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3, Điều 26; Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn là chị Nguyễn Thị H đã được triệu tập hợp lệ hai lần, xin xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
Do có quan hệ quen biết, nên ngày 28/5/2024 anh Vũ Kim T và chị Nguyễn Thị H có thỏa thuận: anh T chuyển khoản cho chị H 400.000.000đ từ tài khoản số: 0967596326 Ngân hàng V1, tên tài khoản là Vũ Kim T đến tài khoản nhận: số tài khoản 5555666626 Ngân hàng T2, chủ tài khoản Nguyễn Thị H. Mục đích: để chị H đáo hạn ngân hàng. Đến nay, chị H đã trả anh T số tiền gốc là 230.000.000đ và 20.700.000đ tiền lãi. Nay, anh T yêu cầu khởi kiện buộc chị H phải trả anh T số tiền gốc là 170.000.000đ và tiền lãi tạm tính đến ngày 13/01/2025 là 17.000.000đ, yêu cầu chị H tiếp tục trả lãi cho anh T theo quy định pháp luật.
Xét thấy: Việc anh T đã chuyển số tiền 400.000.000đ cho chị H và chị H đã chuyển trả anh T 250.700.000đ (trong đó tiền gốc 170.000.000đ và lãi 20.700.000₫), từ số tài khoản: 0967596326 Ngân hàng V1, tên tài khoản là Vũ Kim T và số tài khoản: 5555666626 Ngân hàng T2, chủ tài khoản Nguyễn Thị H là có thật, được các bên đương sự thừa nhận. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết, được Tòa án thừa nhận và không phải chứng minh.
Anh Tú xác định đây là thỏa thuận vay tiền giữa anh T và chị H với mục đích chị H vay tiền để đáo hạn ngân hàng cho các khách hàng đến nợ. Chị H thừa nhận việc nhận tiền từ anh T để chị đáo hạn ngân hàng cho khách hàng đến hạn trả nợ, tuy nhiên, đây là làm ăn chung giữa chị và anh T, chị là người trung gian chuyển tiền cho anh T. Chị H cũng thừa nhận giữa chị H, anh T và khách hàng đến hạn đáo hạn ngân hàng không có văn bản thỏa thuận gì với nhau. Anh Tú không biết khách hàng là ai chỉ có chị H biết khách hàng là ai và khách hàng chỉ có trách nhiệm trả nợ cho chị H nên chị H phải có trách nhiệm trả tiền cho anh T như đã thỏa thuận.
Quá trình giải quyết vụ án, chị H cung cấp tài liệu là tin nhắn zalo giữa H và T thể hiện: ngày 28/5/2024 H nhắn cho T “chỗ ae trong p đáo 800 5 ngày 2n lm k” nghĩa là H hỏi T có đáo hạn ngân hàng cùng H khoản 800.000.000₫ của khách hàng không, thỏa thuận đáo hạn trong 5 ngày lãi suất 2.000₫/ 1.000.000đ/ ngày; T trả lời “E ơi 3 nghìn trở lên nhé. 2ng a ko làm đâu”; H đồng ý và nhắn “uk, lấy 400 T3 e đi e vào tiền cho khách cắt 5 ngày”; Ngày 08/7/2024 chị H nhắn “chứ bh a có đòi em thì e cungz chỉ có trông ngóng vào nó trả còn đường cùng mà k đòi đc nó hay ntn thì gốc sau e có trách nhiệm trả a dần”.
Các tài liệu là tin nhắn zalo, lời khai của chị H tại Tòa án thể hiện chị H xác nhận chị chịu trách nhiệm trả T cả lãi và gốc cho anh T khi chị H nhận được tiền khách trả.
Từ những phân tích nêu trên, xác định đây là quan hệ vay tài sản giữa chị H và anh T, khi vay hai bên không lập thành hợp đồng, số tiền vay 400.000.000đ, thời hạn vay: 05 ngày từ 28/5/2024 đến 01/6/2024, thỏa thuận lãi suất 3.000đ/1.000.000 đ/ ngày = 108%/năm = 9%/ tháng.
Chị H đã trả anh T 230.000.000đ tiền gốc, cụ thể: ngày 15/6/2024 trả 180.000.000đ; ngày 12/7/2024 trả 50.000.000đ. Chị H có trả anh T 20.700.000đ tiền lãi, cụ thể: ngày 10/6/2024 chị H trả T 14.100.000đ; ngày 25/6/2024 chị H trả T 6.600.000 đ tiền lãi.
Tại phiên tòa hôm nay, anh T đề nghị chuyển số tiền lãi 20.700.000đ chị H đã trả cho anh trừ vào tiền gốc; Anh Tú xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần lãi; chỉ đề nghị chị H phải trả anh T tiền gốc còn lại là 149.300.000đ.
Xét thấy, việc anh T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tiền lãi là sự tự nguyện của đương sự, cần chấp nhận. Đối với số tiền lãi 20.700.000đ, anh T đề nghị trừ vào tiền nợ gốc, vì vậy nợ gốc còn lại chị H phải trả anh T là 149.300.000đ là có căn cứ, cần chấp nhận.
[3] Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 235, 264, 266, 217, 244, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Toà án;
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Kim T.
Buộc chị Nguyễn Thị H phải trả anh Vũ Kim T số tiền nợ gốc là 149.300.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu ba trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, các bên không thỏa thuận được lãi suất thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Vũ Kim T về việc buộc chị Nguyễn Thị H trả tiền lãi của số tiền gốc 170.00.000 (Một trăm bảy mươi triệu) đồng (tính từ ngày 13/7/2024 đến ngày 13/01/2025 là 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 7.465.000 (bảy triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại anh Vũ Kim T 4.534.000 (bốn triệu năm trăm ba mươi tư nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000133 ngày 24/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
Đương sự có mặt có quyền quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thu Trang |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Bùi Quang Hợi | Nguyễn Thị Liên | Vũ Thu Trang |
Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 19/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
