Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc
QUẬN BÌNH THỦY 
THÀNH PHỐ CẦN THƠ 
Bản án số: 19/2025/DS-ST 
Ngày: 20 - 02 - 2025 
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc 
và đòi tài sản” 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thúy Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Hà

Ông Nguyễn Phú Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Vũ Linh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Tạ Bá Nhịn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 680/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Võ Hoài T, sinh năm: 1983. Có mặt

Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Lê Ngọc L, sinh năm 1959

Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1966

Cùng địa chỉ: Số A, tổ G, khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Á – văn bản uỷ quyền ngày 29/10/2024. Có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Đào Thị Hồng N (vợ nguyên đơn ông T). Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt

Đại diện uỷ uyền: Ông Võ Hoài T – văn bản uỷ quyền ngày 24/10/2024.

Ông Lê Ngọc Q và bà Lê Ngọc Y (con bị đơn ông L, bà T1).

Địa chỉ: Số A, tổ G, khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn – ông Võ Hoài T trình bày:

Vào ngày 28/03/2024 giữa ông với vợ chồng ông Lê Ngọc L và bà Nguyễn Thị Thu T1 có ký hợp đồng đặt cọc để mua bán nhà đất đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H06200/LT, diện tích 103m², thửa số 496, 466, tờ bản đồ số 05 (trong đó có 80m² đất ODT và 23m² đất vườn), toạ lạc tại khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, tp Cần Thơ, do Ủy ban nhân dân quận B cấp mang tên ông Lê Ngọc L và bà Nguyễn Thị Thu T1, số tiền đặt cọc 50.000.000 đồng. Sau đó, đến ngày 08/4/2024 ông T cho ông L, bà T1 mượn thêm số tiền 500.000.000 đồng để bị đơn lấy giấy tờ đất tại ngân hàng, nên tổng số tiền đưa bị đơn là 550.000.000 đồng. Lý do, không thực hiện được hợp đồng đặt cọc là do bên bán không cung cấp được giấy phép xây dựng nhà, giấy xác nhận ba không và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc. Thời gian đó, ông L, bà T1 thống nhất trả lại số tiền 550.000.000 đồng cho nguyên đơn, nhưng kéo dài thời gian không chịu trả.

Nay nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả lại tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng và tiền mượn 500.000.000 đồng.

Theo đơn phản tố, tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đại diện ủy quyền của bị đơn – ông Trần Văn Á trình bày:

Thừa nhận có ký hợp đồng đặt cọc như nguyên đơn trình bày là đúng, tuy nhiên tổng số tiền đặt cọc bị đơn ông L nhận là 550.000.000 đồng của ông T nhưng sau đó ông T đổi ý không mua nữa nên gia đình hứa khi nào bán nhà xong sẽ trả.

Sau khi xem nhà và đất cùng giấy tờ đất thì ông T và bị đơn thống nhất giá mua bán nhà, đất là 2.100.000.000 đồng. Vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng nên bị đơn thống nhất ông T đặt cọc trước số tiền 50.000.000 đồng để làm tin, có tiền đặt cọc bị đơn mới dám thông báo cho ngân về việc tất toán nợ, sau đó ông T tiếp tục đặt cọc cho bị đơn 500.000.000 đồng để trả nợ vay và lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi chuẩn bị xong bị đơn mới ký kết hợp đồng chuyển nhượng vì thế Hợp đồng đặt cọc không ghi ngày tháng năm chuyển nhượng.

Trong thời gian nói trên ông T đưa ra yêu cầu bị đơn phải xác nhận ba không tại UBND phường và phải có giấy phép xây dựng. Việc yêu cầu trên là nằm ngoài thỏa thuận của các bên. Do đó, bị đơn không đồng ý và yêu cầu ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, ông T lại yêu cầu bị đơn giảm giá 200.000.000 đồng thì mới đồng ý mua, nhưng bị đơn không đồng ý.

Nay bị đơn ông L phản tố:

  • - Yêu cầu ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 496 + 466, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại KV Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.
  • -Trường hợp ông T không đồng ý ký kết hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất nêu trên thì đề nghị Toà án tuyên toàn bộ số tiền đặt cọc 550.000.000 đồng mà ông T đặt cọc thuộc về bị đơn.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn ông Võ Hoài T trình bày tranh luận: Tại phiên toà nguyên đơn sửa đổi, bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện. Thứ nhất, huỷ hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2024, buộc bị đơn trả lại tiền cọc 50.000.000 đồng. Thứ hai, đối với số tiền 500.000.000 đồng là tiền do bị đơn mượn để thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng và lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp tại ngân hàng. Ngoài ra, giữa các bên không có nội dung thoả thuận nào khác về tiền đặt cọc lần 2 như bị đơn trình bày. Nên đây không phải là tiền đặt cọc mà tiền do nguyên đơn cho bị đơn mượn.

Về lỗi là do tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc để bán nhà và đất cho nguyên đơn phía bị đơn không có quyền định đoạt đối với tài sản, vì thời điểm đó bị đơn thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ngân hàng. Hơn nữa, theo như thoả thuận bằng miệng giữa các bên thì phía bị đơn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về ba không, có giấy phép xây dựng đối với căn nhà trên đất. Tuy nhiên, qua nhiều lần trao đổi làm việc với bị đơn ông L, bà T1 nhưng bị đơn không cung cấp được các điều kiện như đã thoả thuận.

Đại diện bị đơn ông Trần Văn Á trình bày tranh luận: Khi các bên giao dịch thực hiện hợp đồng đặt cọc là do tự nguyện của nguyên đơn, nguyên đơn trực tiếp đến tại nhà và đất tìm hiểu về tài sản, từ đó mới ký hợp đồng đặt cọc. Tổng số tiền đặt cọc lần 1 ngày 28/3/2024 là 50.000.000 đồng, lần 2 ngày 08/4/2024 là 500.000.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng đây là tiền bị đơn mượn là không đúng, bởi vì giữa nguyên đơn và bị đơn không có mối quan hệ kinh doanh hoặc có làm ăn với nhau, nên không có lý do gì để bị đơn mượn tiền của nguyên đơn, mà đây là tiền đặt cọc cho việc mua bán nhà và đất như nội dung tại biên nhận cọc ngày 28/3/2024. Nguyên đơn cho rằng do bị đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện như, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về ba không, có giấy phép xây dựng đối với căn nhà trên đất. Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đơn đã có, riêng đối với việc xác nhận ba không và giấy phép xây dựng căn nhà, bị đơn không đáp ứng điều kiện này, bởi vì khi thực hiện việc giao kết đặt cọc các bên không có thoả thuận về các điều kiện này. Hiện tại, bị đơn vẫn có thiện chí bán nhà và đất này cho nguyên đơn, do đó, bị đơn có đơn phản tố yêu cầu: Tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc. Nếu trường hợp nguyên đơn không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì xem như mất tiền đặt cọc là 550.000.000 đồng.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

  • - Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
  • - Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận có ký hợp đồng đặt cọc để nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bị đơn (Quyền sử dụng đất số H06200/LT, diện tích 103m², thửa số 496, 466, tờ bản đồ số 05 (trong đó có 80m² đất ODT và 23m² đất vườn), toạ lạc tại khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, tp Cần Thơ, do Ủy ban nhân dân quận B cấp mang tên ông Lê Ngọc L và bà Nguyễn Thị Thu T1); Đồng thời thừa nhận nguyên đơn đã đặt cọc cho bị đơn 550.000.000 đồng (50.000.000 đồng theo hợp đồng đặt cọc + 500.000.000 đồng nguyên đơn đưa bị đơn tất toán khoản vay tại ngân hàng lấy GCNQSDĐ ra để ký hợp đồng chuyển nhượng).

Đây là lời thừa nhận của các bên nên không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS.

Về số tiền đặt cọc, căn cứ hợp đồng đặt cọc chỉ thể hiện: nguyên đơn đặt cọc cho bị đơn 50.000.000 đồng, ngoài ra hợp đồng không thể hiện các yêu cầu, điều kiên khi ký hợp đồng chuyển nhượng như nguyên đơn trình bày (Lý do không thực hiện được hợp đồng đặt cọc là do bên bán không cung cấp được giấy phép xây dựng, giấy xác nhận ba không và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc).

Từ những phân tích trên,

Căn cứ các Điều 328, Điều 166 Bộ luật Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
  • Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn
  • Buộc bị đơn có nghĩa vụ trả lại nguyên đơn số tiền 500.000.000 đồng

Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi tiền cọc 50.000.000 đồng

Tuyên hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2024 giữa nguyên đơn ông T với bị đơn ông L và bà T1 là vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Tại phiên toà nguyên đơn sửa đổi, bổ sung một phần yêu cầu khởi kiện về việc, huỷ hợp đồng đặt cọc ngày 18/3/2024 và số tiền 500.000.000 đồng là tiền bị đơn mượn không phải là tiền đặt cọc. Xét sửa đổi bổ sung khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên chấp nhận.

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoài T về việc huỷ hợp đồng đặt cọc, buộc bị đơn trả lại tiền cọc 50.000.000 đồng và tiền mượn 500.000.000 đồng.

Xét hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2024, nguyên đơn và bị đơn thừa nhận có giao kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bị đơn (Quyền sử dụng đất số H06200/LT, diện tích 103m², thửa số 496, 466, tờ bản đồ số 05, toạ lạc tại khu vực Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ, do Ủy ban nhân dân quận B cấp mang tên ông Lê Ngọc L và bà Nguyễn Thị Thu T1. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà các đương sự thừa nhận có giao kết hợp đồng đặt cọc, bị đơn có nhận tiền đặt cọc nên xác định hợp đồng đặt cọc là có thật.

Xét về số tiền đặt cọc, nguyên đơn cho rằng số tiền đặt cọc là 50.000.000 đồng, riêng số tiền 500.000.000 đồng là tiền cho bị đơn mượn trả tiền ngân hàng và lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp tại ngân hàng.

Bị đơn thừa nhận có nhận tổng cộng là 550.000.000 đồng, tuy nhiên cho rằng đây là tổng số tiền nguyên đơn đặt cọc lần 1 và lần 2.

Hội đồng xét xử, căn cứ Biên nhận cọc ngày 28/3/2024, nội dung thể hiện “..... Bên A tôi Lê Ngọc L và vợ Nguyễn Thị Thu T1 chúng tôi có nhận số tiền của bên B là anh Võ Hoài T với số tiền 50.000.000 đồng. Lý do, tiền cọc mua nhà đất của bên B.....”. Như vậy, số tiền 50.000.000 đồng tại biên nhận cọc thể hiện là tiền đặt cọc như các đương sự trình bày là hoàn toàn phù hợp.

Xét về lỗi: nguyên đơn cho rằng do bị đơn không đáp ứng đầy đủ các điều kiện như, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc, xác nhận ba không, giấy phép xây dựng nhà. Tuy nhiên, theo nguyên đơn trình bày thì sự thoả thuận các điều kiện này chỉ trao đổi bằng miệng, bằng niềm tin uy tín giữa các bên, ngoài ra không có chứng cứ để chứng minh, bị đơn không thừa nhận có sự thoả thuận như nguyên đơn trình bày. Tại phiên toà đại diện bị đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nguyên đơn, nhưng phía nguyên đơn không đồng ý.

Do đó, chiếu theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự “.... Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản và khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác...”. Như vậy, căn cứ vào nội dung Biên nhận cọc ngày 28/3/2024 các đương sự không có thoả thuận các điều kiện như nguyên đơn trình bày, việc nguyên đơn từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc đòi tiền cọc 50.000.000 đồng không có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu đối với số tiền 500.000.000 đồng, căn cứ biên nhận tiền ngày 08/4/2024 nội dung thể hiện “...tôi tên Nguyễn Thị Thu T1 có nhận số tiền Võ Hoài T 500.000.000 đồng..”.

Căn cứ biên nhận đặt cọc ngày 28/3/2024 cũng như trình bày của đại diện bị đơn tại phiên toà, cho rằng hợp đồng đặt cọc ngày 28/3/2024 kết thúc từ thời điểm nguyên đơn chuyển tiền 50.000.000 đồng cho bị đơn. Xét về nội dung biên nhận ngày 08/4/2024 không thể hiện tiền đặt cọc, hơn nữa, bị đơn cũng không cung cấp được chứng cứ nào khác về việc có sự thoả thuận đặt cọc lần 1 (50.000.000 đồng), lần 2 (500.000.000 đồng) như trình bày. Bên cạnh đó, tại bản tự khai bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T1 nội dung thể hiện “..... ông T tiến hành đặt cọc cho chúng tôi số tiền 50.000.000 đồng và ông T cho chúng tôi mượn tạm trước 500.000.000 đồng để trả nợ vay và lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngân hàng ra....”. Như vậy, trình bày của bị đơn mặc dù cho rằng đây là tiền nguyên đơn đặt cọc nhưng tại bản tự khai (đề ngày 08/11/2024) bị đơn bà T1 thừa nhận số tiền 500.000.000 đồng là mượn để trả nợ vay và lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ngân hàng, là phù hợp với trình bày của nguyên đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền 500.000.000 đồng, tiền cho bị đơn mượn là hoàn toàn thoả đáng nên chấp nhận.

[2.2] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn:

Yêu cầu ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc bằng việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 496 + 466, tờ bản đồ số 05 tọa lạc tại KV Bình Phó A, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ.

Trường hợp ông Võ Hoài T không đồng ý ký kết hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất nêu trên thì đề nghị Toà án tuyên toàn bộ số tiền đặt cọc 550.000.000 đồng mà ông T đặt cọc thuộc về bị đơn.

Song, theo như viện dẫn trên và phân tích tại mục [2.1] Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn đối với số tiền 50.000.000 đồng do nguyên đơn đặt cọc thuộc về bị đơn, nên bị đơn không phải trả lại nguyên đơn. Bác yêu cầu phản tố về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc và cho rằng số tiền 500.000.000 đồng là tiền đặt cọc.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chí phí tố tụng khác.

- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí đối với số tiền có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn. Tuy nhiên, ông L thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định, riêng bị đơn bà T1 phải chịu án phí theo quy định.

Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 273, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 328, Điều 166 Bộ luật Dân sự;
  • Khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Hoài T về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản đối với bị đơn ông Lê Thanh L1 và bà Nguyễn Thị Thu T1.
    1. Buộc bị đơn ông L1, bà T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông T số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng)

      Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn ông L1, bà T1 chậm trả số tiền trên thì còn phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    2. Tuyên vô hiệu Biên nhận cọc ngày 28/3/2024 được ký kết giữa ông T với bị đơn bà T1, ông L1.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông L1, bà T1 đối với nguyên đơn ông T về tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
    1. Giải quyết hậu quả của hợp đồng đặt cọc giữa ông T với ông L1, bà T1, về việc số tiền 50.000.000 đồng do nguyên đơn đặt cọc thuộc về bị đơn nên bị đơn không phải hoàn lại số tiền này cho nguyên đơn.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Về án phí: Bị đơn bà T1 phải chịu 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
    • Nguyên đơn ông T phải chịu 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã dự nộp 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) và được nhận lại 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002947 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
  
 Phan Thúy Nguyên

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.BT;
  • - Chi Cục THADS Q.BT;
  • - TAND TP.CT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản

  • Số bản án: 19/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger