Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/DS-ST

Ngày 20-02-2025

“V/v tranh chấp

hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Nguyễn Văn Mầm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 511/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 283/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A

Địa chỉ: phường A, quận B, Thành phố HCM

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Thạch D– Tổng giám đốc.

Người đại diện hợp pháp của bà D– Trưởng phòng giao dịch Thới Bình Chi nhánh Cà Mau “Theo văn bản ủy quyền ngày 25 tháng 12 năm 2023”.

Người đại diện hợp pháp của ông L: Ông Dương Thái H – Chuyên viên khách hàng cá nhân Phòng giao dịch Thới Bình Chi nhánh Cà Mau “Theo văn bản ủy quyền ngày 15 tháng 7 năm 2024”, (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Tường D, sinh năm 1992 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm ĐT, thị trấn CN, huyện CN, tỉnh CM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 7 năm 2024 trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn ông Dương Thái H trình bày:

Ngày 16/5/2023 ông Nguyễn Tường D đã ký Giấy đề nghị kiêm Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 (thông qua hình thức Sacombank Pay là ứng dụng được cài đặt và sử dụng trên thiết bị di động) để vay của Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi xem xét điều kiện của ông D nên Ngân hàng đã chấp nhận giải ngân cho ông D vay với số tiền là 45.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất 16,8%/năm, tổng số tiền gốc và lãi ông D phải trả cho Ngân hàng là 67.680.000 đồng (Trong đó vốn là 45.000.000 đồng, lãi 22.680.000 đồng). Hình thức trả: ông D phải góp đều gốc và lãi hàng tháng với số tiền là 1.880.000 đồng (trong đó: Gốc là 1.250.000 đồng, lãi là 630.000 đồng), trong thời hạn 36 tháng.

Qua trình thực hiện hợp đồng có khi ông D góp đúng hạn có khi góp trễ, ngày 14/5/2024 khoản vay của ông D đã bị nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) tại Ngân hàng Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Quân Đội và Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng nên khoản nợ của ông D bị nợ kéo theo cần chú ý tại Ngân hàng Ngân hàng A. Ngân hàng đã liên hệ và thông báo cho ông D tất toán toàn bộ khoản vay cho Ngân hàng nhưng ông D không thực hiện. Nay Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tường D trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại tính đến ngày 20/02/2025 là 18.750.000 đồng (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông D tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 21/02/2025 đến khi ông D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 giữa ông Nguyễn Tường D và Ngân hàng A.

Đối với ông Nguyễn Tường D, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã triệu tập ông D để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông D vắng mặt không lý do.

TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa nguyên đơn Ngân hàng A với bị đơn ông Nguyễn Tường D là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Tường D có địa chỉ tại khóm Đồng Tâm, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Tường D hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng ông D vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử vắng mặt đối với ông D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp của vụ án:

Ngân hàng A yêu cầu ông Nguyễn Tường D trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc còn lại tính đến ngày 20/02/2025 là 18.750.000 đồng (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Đồng thời, yêu cầu ông D tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 21/02/2025 đến khi ông D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 giữa ông Nguyễn Tường D và Ngân hàng A. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng có cung cấp cho Tòa án Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 giữa ông Nguyễn Tường D và Ngân hàng A. Đối với ông D, Ngân hàng đã gửi cho ông D thông báo về việc đề nghị thanh toán nợ vay quá hạn đề ngày 07/6/2024, ngày 07/6/2024 Ngân hàng cũng tiến hành làm việc với bà Trần Thị Hân là mẹ ruột của ông D về khoản vay của ông D, đồng thời quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án cho ông D về việc Ngân hàng khởi kiện ông D tại Toà án nhưng ông D không có ý kiến phản đối. Từ đó cho thấy việc ông D ký kết hợp đồng tín dụng để vay số tiền 45.000.000 đồng của Ngân hàng là thực tế có xảy ra. Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 giữa ông Nguyễn Tường D và Ngân hàng A có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.

Theo khoản 4.3 Điều 4 của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 quy định về việc thu hồi nợ trước hạn “Bên vay đang có số dư tại Sacombank và/hoặc tại các tổ chức tín dụng khác đã cơ cấu nợ hoặc nợ đã quá hạn”. Do ông D đã bị nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) tại Ngân hàng Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Ngân hàng Quân Đội và Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng nên Ngân hàng A có quyền yêu cầu ông D tất toán toàn bộ khoản vay trước hạn. Do đó, Ngân hàng A yêu cầu ông Nguyễn Tường D trả cho ông Ngân số tiền nợ gốc còn lại tín đến ngày 20/02/2025 là 18.750.000 đồng (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), đồng thời yêu cầu ông D tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 21/02/2025 đến khi ông D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 giữa ông Nguyễn Tường D và Ngân hàng A là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự có giá ngạch: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A nên ông Nguyễn Tường D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 937.500 đồng (Chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26; 35; 39; 147, 227, 244, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với ông Nguyễn Tường D.

Buộc ông Nguyễn Tường D có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A số tiền nợ gốc là 18.750.000 đồng (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Buộc ông Nguyễn Tường D tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 21/02/2025 đến khi ông D thanh toán hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ số LD0000248533 ngày 16/5/2023 giữa ông Nguyễn Tường D và Ngân hàng A.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Tường D phải chịu là 937.500 đồng (Chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Ngân hàng A có dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 703.000 đồng (Bảy trăm lẻ ba nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018795 ngày 25/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai Ngân hàng A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Tường D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP-HS.

Nguyễn Văn Đệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng yêu cầu ông D trả số tiền nợ gốc là 18.750.000 đồng (Mười tám triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger