Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/DS-PT

Ngày: 25/02/2025

V/v tranh chấp kiện đòi tài

sản là quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Phương.

Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Nguyệt;

Ông Lê Ngọc Lâm.

- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Xuân Đạt – Thư ký Toà án.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn N - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về “tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DSST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 129/2024/QĐPT-DS, ngày 30 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Cao Văn C, sinh năm 1971.
    • Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Cao Hồng P, sinh năm 1944.
    • Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Bị đơn: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1967.
    • Địa chỉ: Thôn H, xã C, C, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Cao Hồng P, sinh năm 1944
    • Bà Cao Thị T, sinh năm 1940
    • Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Anh Cao Hùng Q, sinh năm 1963.
    • Chị Phạm Thị Y, sinh năm 1968
    • Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1968.
    • Người đại diện theo uỷ quyền của bà V: Ông Cao Hồng P, sinh năm 1944.
    • Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa
    • UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Người đại diện theo pháp luật:
    • Người đại diện theo ủy quyền: ông Bùi Trung K – Phó chủ tịch UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  5. Người làm chứng:
    • Ông Trương Văn H, sinh năm 1961.
    • Bà Hà Thị P1, sinh năm 1964.
    • Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1962.
    • Bà Quách Thị Hồng P2, sinh năm 1956.
    • Chị Nguyễn Thi O, sinh năm 1981.
    • Ông Bùi Ngọc H2, sinh năm 1965.
    • Cùng địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
  6. Người kháng cáo: Ông Cao Văn P3 - Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn.

Tại phiên toà có mặt ông Cao Hồng P, anh Bùi Văn L, chị Phạm Thị Y, bà Hà Thị P1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Theo đơn khởi kiện ngày 10 tháng 5 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Đầu năm 1989, anh Cao Văn C xây dựng gia đình với chị Nguyễn Thị V. Đến tháng 02/1990, bố mẹ anh là ông Cao Hồng P và bà Cao Thị T cho vợ chồng anh C ở riêng và giao toàn bộ khu đất vườn tại khu Đ để quản lý, sử dụng. Khu đất này do ông bà, bố mẹ anh C khai hoang từ năm 1965, có vị trí tiếp giáp: Phía Đông Bắc giáp hộ ông Bùi Văn H1, phía Đông Nam giáp với đất 02 vụ lúa (R), phía Tây Bắc giáp hộ bà Quách Thị Hồng P2 và Bùi Văn K1, phía Tây Nam giáp khu đất hộ ông Bùi Ngọc H2. Các mặt tiếp giáp như trên đã có văn bản và chữ ký chứng minh kèm theo. Khi khai hoang cũng không biết diện tích cụ thể là bao nhiêu chỉ biết khoảng 3.000m². Thời kỳ khai hoang chưa được nhà nước công nhận là đất khai hoang, không có giấy tờ gì của Nhà nước công nhận nhưng đất đã có chủ.

Cuối năm 2019, anh Bùi Văn L đột nhiên đưa máy đến đào múc, san ủi một phần khu đất trong vườn nhà anh C với lý do đây là đất của hộ anh L vì ở trên đất có một bụi luồng. Bụi luồng này không phải trồng mà có, mà do cụ Bùi Văn E là ông nội của anh L khi đi chăn trâu đã chặt một cây cọc luồng nhỏ làm ống điếu hút thuốc lào sau đó dắt vào gốc cây linh mục. Do gặp điều kiện thuận lợi nên nó đã sống và phát triển thành bụi luồng. Gia đình anh C cũng có ý muốn chặt bỏ nó đi nhưng do cụ E có xin với bà nội anh C đừng phá đi. Với tình cảm xóm làng gần gũi, hay thông cảm và thương người nên khi nghe cụ E nói vậy, bà nội anh C đã đồng ý. Nhưng sau một thời gian dài, quá trình phát triển của bụi luồng này lớn và lan to ra thì ông Cao Hồng P đã có lần yêu cầu ông Bùi Đức K2 là bố của anh Bùi Văn L phá bụi luồng nhưng ông K2 đã không phá vì đã có ý chiếm phần đất có bụi luồng đó. Hiện nay, cụ Bùi Văn E và ông Bùi Đức K2 đã chết vì tuổi già. Nhưng diễn biến của câu chuyện này được ông P nhớ rất chi tiết, hiện giờ ông P vẫn còn minh mẫn, nhớ rõ từng chi tiết, ngọn ngành sự việc. Khi anh Bùi Văn L có việc làm xâm phạm, lấn chiếm khu đất trên, anh C đã trình báo lên ban thôn, lên UBND xã C, các đoàn thể cấp thôn, cấp xã đã được tổ chức hoà giải, phân tích cho hộ anh L ngừng việc xâm chiếm đất đai của người khác nhưng anh L không chấp nhận vì lòng tham muốn chiếm đất. Từ năm 2019 đến nay, mặc dù sự việc chưa được giải quyết, nhưng anh Bùi Văn L vẫn tiếp tục san ủi, đổ đất, gạch đá lên khu đất đang được đề nghị giải quyết ở trên. Vì vậy anh C làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết buộc anh Bùi Văn L chấm dứt việc chiếm khu đất của gia đình anh và trả lại mặt bằng khu đất về nguyên trạng thái, hiện trạng mảnh đất vốn có của nó cho gia đình anh sử dụng. Trả lại cho anh C toàn bộ diện tích 244m², đối với các loại cây tự mọc trên đất như cây T1, K3, Ổ và các loại cây trồng gồm cây S, B, M, X không yêu cầu giải quyết về thiệt hại xảy ra. Đề nghị Nhà nước có chế tài xử lý hành vi vi phạm việc quản lý và sử dụng đất đai theo Điều 204 điểm 1 của Luật đất đai năm 2023 (T).

2. Bị đơn là anh Bùi Văn L trình bày: Trước năm 1990, anh đi bộ đội nên không rõ ông bà và bố mẹ khai thác, sử dụng đất như thế nào. Đến năm 1989 anh về lập gia đình và từ đó cho đến nay gia đình anh vẫn sử dụng, khai thác luồng trên diện tích đất 244m². Năm 2007 theo chủ trương của Nhà nước đo đạc lại đất để giao lại cho các hộ quản lý, sử dụng. Có thôn, cán bộ địa chính xã, cán bộ đo đạc của tỉnh và các hộ liền kề trong đó có hộ ông Cao Hồng P và hộ Bùi Ngọc H2 ký xác nhận để đo đạc vì lúc đó đo từng hộ và có bản đồ 2007- 2008 diện tích là 244m² thuộc thửa 529 bản đồ địa chính. Gia đình anh vẫn khai thác luồng trên diện tích đất từ năm 2007 cho đến 2019 không có tranh chấp gì. Cũng vào năm 2019 do lốc xoáy bị đổ luồng, xã với thôn kiểm đếm gia đình được hỗ trợ khoảng 600.000đ. Năm 2019 khi anh múc cây khế thì gia đình anh C làm đơn khởi kiện cho là anh lấn chiếm diện tích đất. Anh có đổ đất vào để trông cây bầu, trồng chuối nhưng gia đình nhà anh C đã nhổ hết, anh đã báo cáo chính quyền nhưng không lập biên bản nên anh cũng không yêu cầu gì. Nay anh C làm đơn khởi kiện yêu cầu anh trả lại diện tích đất 244m², anh không đồng ý và yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ý kiến của UBND xã C, huyện C: Trên cơ sở hồ sơ địa chính qua các thời kỳ từ khi thực hiện theo quy định của Luật đất đai năm 1987 được lưu trữ tại xã và nguồn gốc lịch sử của khu đất có tranh chấp, UBND xã C cung cấp các thông tin liên quan đến thửa đất tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Cao Văn C và ông Bùi Văn L thường trú tại thôn H, xã C như sau:

+ Vị trí thửa đất đang có tranh chấp và thửa đất có liên quan gồm: Thửa 529 và 566, tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính 1/2000; địa chỉ tại thôn H, xã C, huyện C. Trong đó thửa 529, diện tích 244 m², mục đích sử dụng theo hiện trạng là đất trồng cây lâu năm đang tranh chấp, có 02 cạnh tiếp giáp với thửa 566.

+ Về nguồn gốc sử dụng đất: theo hồ sơ địa chính thì thời kỳ năm 1987 thửa đất trên có vị trí thuộc thửa số 151, tờ bản đồ số 5 bản đồ 299, tỷ lệ 1/2000, diện tích nguyên thửa 3820 m², mục đích sử dụng được ghi: rừng trồng tự nhiên. Địa chỉ thửa đất thuộc HTX L, xã C, huyện C. Tại thời điểm đo đạc và lập hồ sơ địa chính năm 1987 thửa đất chưa được chia ranh giới thành các thửa đất nhỏ như hiện nay. Trong sổ mục kê ghi đối tượng quản lý là UBND xã, chưa giao cho hộ gia đình cá nhân.

Quá trình sử dụng từ năm 1987 đến năm 2008 khi thực hiện đo đạc địa chính thửa đất nêu trên được chia tách tương ứng với 07 thửa đất mới gồm: 468/508 m², 467/321m², 528/766 m², 529/244 m², 566/1749 m², 567/455 m² và 568/396 m², thuộc tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính 1/2000. Tổng diện tích là 4439 m², trên sổ mục kê, sổ địa chính được lập vào năm 2008 có 02 thửa ghi đối tượng sử dụng đất là hộ gia đình cá nhân gồm:

Thửa 467/ 321 m², hộ bà Trương Thị K4 đang sử dụng và thửa 528/766 m² hộ bà Bùi Thị L1 đang sử dụng. Các thửa còn lại ghi đối tượng quản lý là UBND xã. Có sổ Mục kê, số địa chính và các loại bản đồ.

+ Về thủ tục pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người sử dụng các thửa đất nêu trên đều chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

+ Về Nguồn gốc sử dụng: Từ trước năm 1987 và những giai đoạn sau diện tích đất khu vực này do người dân tự ý khai hoang để trồng màu sau đó là trồng các loại cây lâu năm, làm lều quán, nhà ở. Về thời điểm, hiện trạng sử dụng đất đúng theo ý kiến của các thành phần sử dụng đất liền kề tham gia Hội nghị khu dân cư ngày 07/8/2024 được tổ chức tại Nhà văn hóa thôn H3.

+ Về công tác quản lý qua các giai đoạn: Do có sự lỏng lẻo trong công tác quản lý nên thời điểm đo đạc địa chính chưa làm rõ được đối tượng sử dụng đất do vậy đã ghi UBND xã là đối tượng quản lý, sử dụng. Tuy nhiên kể từ năm 1987 đến nay UBND xã C không thực hiện việc giao thầu, giao khoán và không đưa vào quỹ đất công ích do Ủy ban xã quản lý đối với phần diện tích các thửa đất nêu trên.

- Ý kiến của chị Phạm Thị Y: Chị là vợ của anh Bùi Văn L và thống nhất với ý kiến của anh L, không bổ sung ý kiến gì thêm.

- Ý kiến của chị Nguyễn Thị V: Chị là vợ của anh Cao Văn C, chị thống nhất với nội dung đơn khởi kiện của anh C và ý kiến trình bày của ông Cao Hồng P.

- Ý kiến của anh Cao Hùng Q: Anh là con của ông P và bà T, bà T uỷ quyền cho anh tham gia tố tụng, anh thống nhất ý kiến theo đơn khởi kiện của anh C và thống nhất với ý kiến trình bày của ông P. Đề nghị Toà án giải quyết hợp tình hợp lý.

4. Người làm chứng trình bày:

- Bà Hà Thị P1: Mối quan hệ giữa bà và gia đình ông P, anh C và anh L là anh em. Theo như đơn của ông P trình bày là đúng, hiện nay hộ anh C đang sử dụng.

- Bà Quách Thị Hồng P2: Mối quan hệ giữa bà và gia đình ông P, anh C và anh L là hàng xóm với nhau. Từ năm 1983, bà ở đó đầu tiên và biết có nhà ông P, anh C và anh L là giáp ranh với nhau. Sau khi có tranh chấp thì ông P có đến xin chữ ký thì bà cũng đọc là viết hộ bà Quách Thị Hồng P2 thì bà có ký vào giấy còn biên giới và diện tích thì bà không rõ. Việc tranh chấp giữa nhà anh L, nhà anh C bà không biết. Ý kiến của bà đã trình bày với Toà án và buổi làm việc với thôn là đúng thực tế, không có gì thay đổi và xin vắng mặt tại các buổi toà án giải quyết, xét xử vụ án.

- Ông Bùi Văn H1: Quan hệ giữa ông và hộ ông P, anh C và anh L là hàng xóm. Gia đình ông và và hộ anh C chung tường rào phía đông từ C đi lên nhà ông rồi đến nhà ông C. Quá trình sinh sống tại thôn ông biết nhà anh C có vườn luồng phía giáp ruộng nhà anh Bùi Văn L có 04 bụi luồng phía giáp đường rồi đến hộ ông Bùi Ngọc H2.Việc ông ký vào Giấy tóm tắt lý lịch khuân viên đất vườn của gia đình do ông Cao Hồng P giao nộp cho Toà án, trong giấy ghi nhà ông sát nhà anh C nên ông ký vào giấy, nhưng diện tích đất cụ thể nhà anh C, nhà ông P ông không biết là bao nhiêu. Còn việc tranh chấp giữa 02 hộ ông đã trình bày với Toà án và buổi làm việc tại thôn vào ngày 07/8/2024.

- Chị Nguyễn Thị O1 (là vợ của ông Bùi Văn K1 có tên trong giấy tóm tắt lý lịch khuôn viên đất): Chị là hàng xóm của nhà hộ anh Cao Văn C, ông Cao Hồng P và anh Bùi Văn L. Hôm đó chị vừa đi làm về thì anh Cao Văn C sang xin chữ ký và nói em ở gần đó cho anh xin chữ ký. Chị có hỏi anh C là có việc gì không anh? Anh C có trả lời là không có việc gì đâu em nên chị không đọc không biết được nội dung mà ký luôn vào giấy tóm tắt lý lịch khuôn viên đất mà ông P nộp cho Toà án. Còn việc tranh chấp giữa hộ anh C và anh L, bà không biết.

- Ông Bùi Ngọc H2: Ông là hàng xóm của nhà anh Cao Văn C, ông Cao Hồng P và anh Bùi Văn L. Rừng luồng nhà ông giáp ranh với diện tích đất hộ anh Cao Văn C. Việc ông ký vào giấy tóm tắt lý lịch khuôn viên đất của gia đình mà ông P nộp cho Toà là anh C đến nhà ông xin chữ ký, anh C có nói là ông đã viết rồi không có việc gì đâu nên ông ký còn không đọc nên không biết rõ nội dung. Ý kiến của ông đã trình bày với Toà án và buổi làm việc tại nhà văn hoá thôn vào ngày 07/8/2024 tại thôn H, xã C là hoàn toàn đúng thực tế. Còn việc tranh chấp giữa hộ anh C và anh L, ông không biết.

- Quá trinh giải quyết vụ án, UBND huyện C: Nguồn gốc đất đang tranh chấp: Thửa đất được hình thành từ trước năm 1987, được đo đạc bản đồ 299-TTg năm 1987, thuộc một phần thửa đất số 151, tờ bản đồ số 05, bản đồ 299-TTg xã C, tỷ lệ 1/2000, mục đích sử dụng là đất rừng tự nhiên. Theo hồ sơ địa chính lập năm 2008 thì thửa đất được đo đạc thành thửa 529, tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính xã C, tỷ lệ 1/2000. Diện tích đất đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa giao quyền sử dụng đất cho ai quản lý sử dụng. Cụ thể tại thửa 529, tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính xã C, tỷ lệ 1/2000. Diện tích 244 m², mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm khác (LNK), đối tượng quản lý sử dụng là UBND xã.

Ngày 07/8/2024, qua tổ chức Hội nghị tại Nhà văn hóa thôn H3, kiểm tra đo đạc thực tế tại thửa đất (có biên bản làm việc kèm theo) thì các hộ trong khu dân cư quanh khu vực thửa đất có ý kiến là đã ở đó từ năm 1983, 1986 đã thấy hộ ông Bùi Văn L sử dụng ổn định trồng luồng, tre trên thửa đất trên 30 năm không có tranh chấp với bất kỳ ai.

5. Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và thu thập tài liệu chứng cứ:

Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/8/2024, đo đạc xác định: Diện tích đất đang tranh chấp, đo đạc thực tế phù hợp với diện tích theo bản đồ địa chính là 244m², thửa số 529, tờ bản đồ số 22. Có ranh giới cụ thể: Phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 523E là 10,8m và 11m; phía Đông giáp đường đi ra đồng là 12,4m; phía Nam giáp đất hộ anh Cao Văn C là 22,8m; phía Tây giáp đất hộ anh Cao Văn C là 9,7m.

Hiện trạng đo đạc thực tế do các hộ chỉ dẫn như sau: Do anh Chính xác Đ: Phía Bắc dài 11,4m, phía đông dài 6,4m, phía Nam dài 10,1m, phía Tây dài 4,8m. Diện tích = 61m². Do anh L xác định: Phía bắc dài 20,6, phía đông dài 12,1m, phía nam dài 20,4m, phía Tây dài 10,5m. Diện tích = 225m².

Công trình kiến trúc kiên cố trên đất: Không có

Cây cối hoa màu trên đất, gồm 05 cây: 01 cây sấu loại E . 01 cây si to đường kính 40cm. 01 cây khế loại E. 01 cây bưởi loại C, 01 cây xang và 01 cây không biết tên.

Về mặt bằng hiện trạng đất đang tranh chấp: Một phần diện tích tiếp giáp với mặt đường tỉnh lộ 523E (Khoảng ½ dện tích đất) của diện tích đất đang tranh chấp là đất trống, không có tài sản, vật kiến trúc. Bề mặt có hiện tượng cải tạo, san lấp mặt bằng do hộ gia đình đổ đất vào.

Tại biên bản định giá tài sản ngày 22/8/2024 xác định như sau: Thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 xã C có diện tích 244m2 tại thôn H, xã C, huyện C:

Diện tích 244m² (Đất trồng cây lâu năm), đơn giá 17.000đ/m²: 244m² x 17.000đ/m² = 4.148.000₫ (Bốn triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng)

Cây cối trên đất: 01 cây sấu loại E đơn giá: 250.000đ. 01 cây si to đường kính 40cm đơn giá: 622.000đ. 01 cây khế loại E đơn giá 250.000đ. 01 cây bưởi loại C đơn giá: 210.000đ. Tổng giá trị các loại cây trên đất: 1332.000₫

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, Điều 35, 39, Điều 91, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 197, Điều 198 và Điều 221 Bộ luật Dân sự. Điều 23, Điều 24 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 3 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Cao Văn C về yêu cầu anh Bùi Văn L trả lại diện tích 61m².
  2. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc cầu anh Bùi Văn L trả lại diện tích 183m².

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Cao Hồng P kháng cáo với nội dung:

  • Đề nghị UBND xã C xác nhận đơn đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hướng dẫn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Yêu cầu Toà án thẩm định lại tổng diện tích đất khai hoang của gia đình để đánh giá một cách toàn diện, công bằng, đúng thực tế.
  • Huỷ bỏ toàn bộ bản án số 49/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung và quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm dân sự sơ thẩm số 49/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. Về tố tụng:
    1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Cao Văn C có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh Bùi Văn L phải trả lại phần diện tích đất đang sử dụng của ông C tại Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa nên xác định đây là “Tranh chấp về kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. Mặc dù khi nộp đơn khởi kiện, anh C không xuất trình được các tài liệu, chứng cứ chứng minh mình là chủ sử dụng hợp pháp đối với tài sản đang tranh chấp nhưng anh cho rằng anh vẫn có quyền khởi kiện vì gia đình anh đã sử dụng đất từ năm 1965.

      Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa thụ lý, giải quyết là đúng quy định quy định tại khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp đất đai” là chưa cụ thể, cần rút kinh nghiệm. Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn kháng cáo trong hạn luật định, các đương sự không thoả thuận, hoà giải được với nhau về nội dung tranh chấp. Tại phiên toà phúc thẩm người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

    2. Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ lần thứ ba để tham gia phiên toà nhưng người đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Cao Hùng Q và một số người làm chứng vắng mặt không có lý do, người đại diện theo uỷ quyền của Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.
    3. Về xác định tư cách người tham gia tố tụng:

      Toà án cấp sơ thẩm xác định: UBND huyện C, tỉnh Thanh Hoá là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, cấp phúc thẩm xét thấy, UBND huyện C không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án này vì diện tích đất đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, UBND huyện C cũng chưa giao diện tích đất này cho cá nhân, cơ quan, tổ chức nào sử dụng. Vì vậy Toà án cấp sơ thẩm xác định UBND huyện C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chưa chính xác, cần rút kinh nghiệm.

  2. Xét nội dung kháng cáo của người đại diện diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:
    1. Nội dung kháng cáo đề nghị UBND xã C xác nhận đơn đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hướng dẫn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

      Anh Cao Văn C làm đơn khởi kiện vụ án dân sự, đề nghị Toà án buộc anh Bùi Văn L chấm dứt việc chiếm khu đất của gia đình anh và trả lại cho anh toàn bộ diện tích 244m² thuộc thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Tại phiên toà sơ thẩm anh C rút một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh L trả lại cho anh 183m² đất thuộc thửa đất nêu trên. Vì vậy nội dung kháng cáo đề nghị UBND xã C xác nhận đơn đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hướng dẫn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vượt quá yêu cầu khởi kiện. Vì vậy căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo này của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn.

    2. Nội dung kháng cáo đề nghị Toà án thẩm định lại tổng diện tích đất khai hoang của gia đình ông Cao Hồng P:

      Như đã nêu ở mục [2. 1], anh C khởi kiện yêu cầu Toà án buộc anh Bùi Văn L trả lại diện tích đất: 183m² đất đang sử dụng của gia đình anh cho anh. Hội đồng định giá và xem xét thẩm định tại chỗ cũng như các đương sự đã xác định: 183 m² đất đang có tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, thửa đất có diện tích cụ thể, gianh giới rõ ràng vì vậy không cần thiết phải thẩm định lại tổng diện tích đất đã khai hoang của gia đình ông Cao Hồng P nên nội dung kháng cáo này của nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận.

    3. Về nội dung kháng cáo đề nghị huỷ bỏ toàn bộ bản án số 49/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.

      Xét nguồn gốc và hiện trạng diện tích đất đang có tranh chấp:

      Theo hồ sơ địa chính xã C, huyện C được đo năm 1987, diện tích đất 244m² đang có tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 151, tờ bản đồ số 05, bản đồ 299-TTg xã C, tỷ lệ 1/2000, địa chỉ thửa đất: thuộc HTX L, xã C, huyện C, mục đích sử dụng là đất rừng tự nhiên, trong sổ mục kê ghi đối tượng quản lý là UBND xã, chưa giao cho hộ gia đình cá nhân. Theo hồ sơ địa chính lập năm 2008 thì thửa đất được đo đạc thành thửa 529, tờ bản đồ số 22, bản đồ địa chính xã C, tỷ lệ 1/2000, diện tích 244 m², mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm khác (LNK), đối tượng quản lý sử dụng là UBND xã. Diện tích đất đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa giao quyền sử dụng đất cho ai quản lý sử dụng.

      Ngày 07/8/2024, qua tổ chức Hội nghị tại Nhà văn hóa thôn H3, kiểm tra đo đạc thực tế tại thửa đất thì các hộ trong khu dân cư quanh khu vực thửa đất có ý kiến là đã ở đây từ năm 1983, đến năm 1986 đã thấy hộ ông Bùi Văn L sử dụng đất ổn định và có trồng luồng, tre trên thửa đất trên 30 năm, không có tranh chấp với bất kỳ ai.

      Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/8/2024, đo đạc xác định: Diện tích đất đang tranh chấp, đo đạc thực tế phù hợp với diện tích theo bản đồ địa chính là 244m², thửa số 529, tờ bản đồ số 22. Có ranh giới cụ thể: Phía Bắc giáp đường tỉnh lộ 523E là 10,8m và 11m. Phía Đông giáp đường đi ra đồng là 12,4m. Phía Nam giáp đất hộ ông Cao Văn C là 22,8m. Phía Tây giáp đất hộ ông Cao Văn C là 9,7m.

      Anh Cao Văn C làm đơn khởi kiện vụ án dân sự, đề nghị Toà án buộc anh Bùi Văn L chấm dứt việc chiếm khu đất của gia đình anh và trả lại cho anh toàn bộ diện tích 183m² thuộc thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh quyền sử dụng 183 m² đất đang có tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất: thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa là tài sản hợp pháp của mình. Vì vậy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có căn cứ để xem xét. Toà án cấp sơ tẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh C là đúng quy định của pháp luật. Do đó yêu cầu kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đề nghị huỷ bỏ toàn bộ bản án số 49/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá là không có căn cứ chấp nhận.

      Tuy nhiên, bản án số 49/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá quyết định:

      1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Cao Văn C về yêu cầu ông Bùi Văn L trả lại diện tích 61m².
      2. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc cầu ông Bùi Văn L trả lại diện tích 183m².

      Là tuyên chưa rõ ràng về địa chỉ thửa đất, cần sửa lại lời tuyên.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Cao Văn C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 2, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158, Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 197, Điều 198, Điều 221 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Cao Hồng P.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 49/2024/DSST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá.

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Cao Văn C về yêu cầu anh Bùi Văn L trả lại diện tích 61m², thuộc một phần diện tích của thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất: xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, theo bản đồ địa chính xã C vẽ năm 2008.
  2. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc cầu anh Bùi Văn L trả lại diện tích 183m², thuộc một phần diện tích của thửa đất số 529, tờ bản đồ số 22, địa chỉ thửa đất: xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, theo bản đồ địa chính xã C vẽ năm 2008.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Anh Cao Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm anh C đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000990 ngày 16/5/2024 và số 0005073 ngày 21/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá. Anh C đã nộp đủ án phí. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND H. Cẩm Thuỷ;
  • - VKSND H. Cẩm Thuỷ;
  • - Chi cục THADS H. Cẩm Thuỷ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 19/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Văn Chính khởi kiện kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger