|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/DS-PT
Ngày: 21/3/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và
hủy Quyết định hành chính cá biệt”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư
Ông Hồ Đức Quang
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát viên nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 48/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 12 năm 2024, do có kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị T1, bị đơn ông Lê Đức T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 đối với bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh theo Quyết định đưa ra xét xử phúc thẩm số 11/2025/QĐXXPT-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu Á, sinh năm 1963 (Có mặt); ông Trần Đức T, sinh năm 1943 (Vắng mặt); ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1932 (Có mặt); bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1954 (Vắng mặt); bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1944 (Vắng mặt); Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M, ông T: Ông Nguyễn Hữu Á, sinh năm 1963; Người đại diện theo ủy quyền bà T1: Bà Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1984; Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H; (Đều có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Phan Văn C (Vắng mặt) và Luật sư Trần Thị H (Có mặt) - Công ty L4, thuộc đoàn luật sư tỉnh H;
* Bị đơn: Ông Lê Đức T2, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn H1 - Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Đường N, tổ B phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông. (Có mặt)
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
- Ông Lê Thanh M1, sinh năm: 1955; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông M1: Luật sư Nguyễn Xuân H2 - Thuộc Công ty L5 chi nhánh M4 là cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H; (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1960 (Có mặt) và bà Lương Thị Đ, sinh năm 1955 (Vắng mặt); Cùng địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập:
- Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc B - Chức vụ: Phó phòng Tài nguyên & Môi trường huyện H và ông Nguyễn Mạnh T4 – Chức vụ: Phó Hạt trưởng hạt Kiểm lâm huyện H; (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn N – Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã L; (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Hương L, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1960; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Hồ Thị T5, sinh năm: 1959; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Nguyên Thị N1, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm: 1948; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm: 1941; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Ông Phạm Hồng S, sinh năm: 1949; Địa chỉ: Số G N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị C2; sinh năm: 1969; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị V; sinh năm: 1983; Địa chỉ: Tổ 1, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt)
- Ông Nguyên Văn V1; sinh năm: 1985; Địa chỉ: Số nhà E, khu phố Đ, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của bà C1, bà C2, bà V và ông V1: Bà Nguyễn Thị Hương L, sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn T6, sinh năm: 1956; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Ông Lương Văn L2, sinh năm: 1958; địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Ông Nguyễn Xuân H3, sinh năm: 1954; địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Ông Mai Hải T7, sinh năm: 1959; địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm: 1945; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
- Ông Nguyễn Xuân T8, sinh năm: 1952; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Ông Lương Văn M2, sinh năm: 1951; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm: 1952; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; (Vắng mặt)
- Ông Lê Đình Q, sinh năm: 1960; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh và các tài liệu có tại hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:
* Quá trình giải quyết vụ án, theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, ông Nguyễn Hữu T3, bà Nguyễn Thị M và bà Nguyễn Thị T1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Trước năm 1993 vùng đất khoảnh 4, tiểu khu B, xã L, huyện H là đất trồng cây T, Bạch Đàn theo dự án PAM và đất trống đồi trọc do nhà nước quản lý. Các hộ gia đình ở sát liền kề nhau nên đã thống nhất cùng nhau xin nhận đất trồng rừng. Ngày 16/6/1993, UBND xã L, huyên H lập danh sách tổ hợp nhận đất rừng xóm I, xã M, gồm 7 hộ ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, ông Nguyễn Hữu T3, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Văn S1, ông Lê Thanh M1 và ông Lê Đức T2 (mỗi hộ 2 lao động chính, tổng 14 lao động), cử ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng. Ngày 05/12/1993, UBND xã L ban hành Quyết định số 16/QĐ/UB thành lập tổ hợp trồng rừng gồm 7 hộ gia đình trên giao ông T2 làm tổ trưởng tổ hợp. Ngày 26/01/1994, tiếp tục 7 hộ trên lần lượt viết “Đơn xin cấp đất xây dựng vườn rừng” được UBND xã L và UBND huyện H xác nhận. Đến ngày 16/5/1994, UBND huyện H cấp sổ lâm bạ số 106/QĐ/UB diện tích 18ha đất rừng (có 10,5ha rừng trồng cây T) tại khoảnh 4, tiểu khu B, thôn Y, xã L, tứ cận: Phía Đông giáp tổ hợp ông L2; phía Tây giáp đập Nước đỏ; phía Bắc giáp Khe N4 đỏ và phía Nam giáp Rú T9. Sau khi được giao đất 7 hộ gia đình trong tổ hợp đã cùng nhau nhận đất làm vườn ươm, trồng rừng cây Bạch Đàn, cây T theo dự án PAM, chăm sóc cây trên toàn bộ diện tích đất.
Đến năm 1998, UBND huyện H chia tách diện tích trong sổ Lâm bạ trên, cụ thể: Quyết định số 168/QĐ/UB giao ông Á sử dụng diện tích 2ha đất lô 3B; Quyết định số 169/QĐ/UB giao ông T3 sử dụng diện tích 3,8ha đất lô 9A + lô 9B; Quyết định số 176/QĐ/UB giao ông Thông sử D diện tích 2ha đất lô 8B; Quyết định số 179/QĐ/UB giao ông S1 sử dụng diện tích 2ha đất lô 3A; Quyết định số 178/QĐ/UB giao ông M1 sử dụng diện tích 2ha đất lô 8A; Quyết định số 177/QĐ/UB giao ông T2 sử dụng diện tích 6,2ha đất lô 7; riêng hộ gia đình bà M không có quyết định UBND huyện cấp đất, nguyên nhân do ông T2 làm tổ trưởng đại diện tổ hợp đi làm hồ sơ thủ tục không chia, mà cấp cả phần bà M vào diện tích 6,2ha của ông T2, đồng thời sau khi ông T2 nhận quyết định về không bàn giao lại cho các hộ. Ông T2 lợi dụng mình là tổ trưởng đại diện làm các hồ sơ thủ tục nên giữ các giấy tờ của tổ hợp và cho rằng toàn bộ diện tích đất 18ha trong sổ Lâm bạ là UBND huyện H cấp cho riêng gia đình ông T2, chứ không phải cho tổ hợp nên đã chiếm, sử dụng toàn bộ diện tích đất từ năm 2002 cho đến nay.
Đầu năm 2002, số cây được giao, trồng và chăm sóc chung của tổ hợp đến kỳ khai thác, các hộ nhiều lần họp bàn với ông T2 để cùng khai thác bán và chia tách diện tích đất trong Lâm Bạ trên cho từng hộ sử dụng riêng, nhưng ông T2 không đồng ý. Nên ngày 23/7/2002, Hạt kiểm lâm huyện H và UBND xã L đã tổ chức làm việc với ông T2 với các thành viên trong tổ hợp, tại buổi làm việc ông T2 đã thống nhất thực hiện chia tách đất cho các thành viên, nhưng sau đó ông T2 không thực hiện. Do thửa đất đang tranh chấp nên, UBND xã L đã ra quyết định đình chỉ việc tỉa thưa và trồng mới trong vùng rừng đang tranh chấp và ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông Lê Đức T2. Tuy nhiên trong thời gian chờ cơ quan chức năng giải quyết tranh chấp, hộ ông T2 không chấp hành mà tiếp tục chiếm dụng đất, cây cối của Tổ hợp, chăm sóc bán với số tiền 39.000.000 đồng. Năm 2004, ông T2 tiếp tục khai thác với khối lượng 300 xitte x 500.000 đồng = 150.000.000 đồng.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Đức T2, ông Lê Thanh M1 và ông Nguyễn Văn P, bà Lương Thị Đ khai thác, thu hoạch cây cối, chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, để trả lại diện tích 18ha (diện tích thực tế 21ha) đất tại khoảnh 4, tiểu khu B, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H và chia đều cho 05 hộ thành viên tổ hợp, gồm: Ông Nguyễn Hữu Á diện tích 3,15ha, ông Trần Đức T diện tích 3,15ha, ông Nguyễn Hữu T3 diện tích 3,8ha, bà Nguyễn Thị M diện tích 3,15ha, bà Nguyễn Thị T1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn S1 (đã chết) diện tích 3,15ha; đồng thời buộc ông Lê Đức T2 trả lại số tiền 135.000.000 đồng tiền cắt tỉa thưa cây Bạch Đàn, cây Thông của tổ hợp bán, chia đều các hộ thành viên tổ hợp trên, mỗi hộ số tiền 27.000.000 đồng.
* Tại đơn yêu cầu phản tố ngày 08/7/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Đức T2 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày:
Để phát triển vườn rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc theo chủ trương nhà nước, năm 1993 ông T2 làm đơn xin cấp đất rừng với diện tích 50ha tại đồi cây Mối, rú T10, rú T9, Động Học S2, Đá Nhể... ngày 16/5/1994 UBND huyện H cấp sổ lâm bạ số 106/QĐ/UB diện tích 18ha đất (có 10,5ha rừng trồng cây T) cho riêng hộ Lê Đức T2 có bản đồ giao đất kèm theo tại khoảnh 4, tiểu khu B, tứ cận: Phía Đông giáp tổ hợp ông L2; phía Tây giáp đập Nước đỏ; phía Bắc giáp Khe Nước đỏ; phía Nam giáp R; địa chỉ: Thôn Y, xã L, gia đình ông T2 sử dụng ổn định từ đó đến nay đã 30 năm không có tranh chấp. Nguồn gốc vùng đất này, năm 1993 trở về trước là do Nhà nước quản lý thuộc dự án 661 trồng cây T, cây B, sau đó dự án này không hiệu quả nên Nhà nước đã cấp đất cho hộ dân để phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhưng không có ai nhận đất rừng để làm, do ông T2 đi bộ đội về đã được tiếp thu chủ trương Nhà nước nên nhận rừng để trồng. Từ đó đến nay, gia đình ông T2 đã vay vốn Ngân hàng để trồng nhiều lứa cây Keo và thu hoạch một số cây T theo đúng quy định Nhà nước.
Ngoài ra từ năm 2001, 2002 ông T2 đã ký các Hợp động giao khoán chăm sóc bảo vệ rừng với L6 dự án phòng hộ Ngàn Sâu, cụ thể: Hợp đồng giao khoán số 01 ngày 24/3/2001 diện tích 09ha tại vị trí lô 8, 5, 9 thuộc khoảnh 1, tiểu khu B; hợp đồng giao khoán số 27 ngày 03/01/2002 diện tích 9,3ha vị trí lô 28, 30, 31 thuộc khoảnh 1, tiểu khu B và hợp đồng giao khoán 01/2003 diện tích 9,3ha vị trí các lô 28, 30, 31 thuộc khoảnh 1, tiểu khu B, diện tích 18ha đất để trồng cây Keo, đã khai thác được 4 lứa, cụ thể: Lứa thứ nhất trồng, bán giá: 100.000.000 đồng; lứa thứ hai trồng, bán giá: 270.000.000 đồng; lứa thứ ba trồng, bán giá: 400.000.000 đồng; lứa thứ tư trồng, bán giá: 500.000.000 đồng; lứa thứ năm chưa khai thác. Mỗi lần khai thác ông T2 đều làm đơn được UBND xã, huyện và Hạt Kiểm lâm huyện đồng ý cho khai thác theo đúng quy định.
Cụ thể tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2012/HSST ngày 30/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh đã nhận định “Năm 1994, Lê Đức T2 được nhà nước cấp Sổ lâm bạ về việc giao rừng thông và đất trồng rừng theo Nghị định 02/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm các lô 6,7,8,9 khoảnh 2 Tiểu khu B thuộc địa phận xã L, H, Hà Tĩnh...” và các tài liệu chứng cứ khác thể hiện thì ông T2 khẳng định sổ Lâm bạ trên là cấp riêng cho hộ ông T2, không phải cấp cho tổ hợp, không có tên các ông Á, ông T, ông T3, bà M, bà T1 và ông M1, ngoài ra cũng không cấp chung cho bất kỳ ai khác. Từ năm 1994 đến nay không có hộ gia đình nào tác nghiệp, sử dụng trên vùng đất này và cũng không có ai cản trở. Trong đơn xin nhận đất ngày 28/12/1993 cũng không có tên các hộ này, còn Quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 (cấp ngày chủ nhật, là giả, sai quy định Nhà nước) UBND xã L thành lập tổ hợp trồng rừng gồm 7 hộ gia đình trên là không đúng. Cũng như các biên bản làm việc năm 2002 của UBND xã L là ông T2 không biết. Ngoài ra việc các hộ trên xuất trình các quyết định chia tách đất của UBND huyện H năm 1998 thì ông T2 không biết do đâu mà có, UBND xã, huyện và Hạt Kiểm lâm không đi thực địa vẽ sơ đồ để chia. Đối với số tiền 135.000.000 đồng bán cây các hộ yêu cầu trả lại, ông T2 không biết là tiền gì, do đâu mà có, ông T2 không đồng ý.
Nay ông T2 có yêu cầu phản tố trong vụ án đề nghị Toà án: Không chấp nhận đơn khởi kiện nguyên đơn và yêu cầu hủy các Quyết định do nguyên đơn cung cấp, gồm: Quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 UBND xã L thành lập tổ hợp trồng rừng; Quyết định số 168, 169, 176, 179, 178, 177/QĐ/UB vào tháng 6/1998 UBND huyện H; yêu cầu buộc ông M1 phải trả lại 30% giá trị cây Keo theo giá thị trường trước khi khai thác và tháo dở hàng rào, di dời toàn bộ tài sản hiện có trên đất để lại toàn bộ diện tích đất sạch trên cho ông T2.
Đối với các yêu cầu độc lập của ông P, bà Đ thì ông T2 cũng yêu cầu Tòa án bác toàn bộ vì phần đất này nằm trong sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 UBND huyện H diện tích 18ha được nhà nước cấp riêng ông T2. Gia đình ông P, bà Đ cũng không có giấy tờ gì hợp pháp liên quan đến phần đất này, nên ông Thân yêu C3 ông P, bà Đ phải trả lại toàn bộ diện tích này cho gia đình ông T2.
* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 05/3/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông M1 trình bày:
Ngày 16/6/1991, ông M1 làm đơn xin cấp đất vườn ở và rừng sản xuất tại Động C với diện tích khoảng 3,9ha tại thôn Y, xã L, có tứ cận: Phía Bắc giáp khe Nước Đỏ; phía Tây, phía Nam giáp khu dân cư đất nông nghiệp; phía Đông giáp đất tổ hợp ông L2, được UBND xã L xác nhận và gia đình ông M1 sử dụng ổn định từ đó đến nay. Nhưng tại thời điểm đó theo quy định Nhà nước cá nhân là không được hỗ trợ vốn để trồng rừng mà chỉ có tập thể hoặc tổ hợp, nên ông M1 làm đơn tham gia nhận đất trồng rừng với tổ hợp do ông T2 làm tổ trưởng diện tích 50ha đất thì có phần diện tích 3,9ha do gia đình sử dụng từ năm 1991. Ngày 16/5/1994, UBND huyện H cấp sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB diện tích 18ha đất cho tổ hợp ông T2, thì phần diện tích gia đình ông M1 sử dụng trước đó không nằm trong sổ Lâm bạ tại các Quyết định UBND huyện H cấp số 178/QĐ/UB ngày 15/6/1998 tại lô số 8A, khoảnh D, tiểu khu B, diện tích 04ha, có tứ cận: Phía Đông giáp lô 8B; phía Bắc giáp Đập nước đỏ; phía Tây, phía Nam đều giáp đất nông nghiệp, khu dân cư và Quyết định 176/QĐ/UB tại lô số 32, khoảnh 1, tiểu khu B diện tích 3,9ha, có tứ cận: Phía Đông giáp đường liên xã; phía Bắc giáp Đập nước đỏ; phía Tây, phía Nam đều giáp đất nông nghiệp và đường liên xã, mà chỉ nằm trong đơn xin dự án 50ha đất. Đến năm 2000, tổ hợp do ông T2 làm tổ trưởng không hoạt động nữa nên ông M1 làm đơn xin tách riêng khỏi dự án được ông T2 đồng ý và được UBND xã L, UBND huyện H xác nhận.
Vì vậy, ông M1 chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận quyền sử dụng đất theo đúng Quyết định số 178/QĐ/UB tại lô số 8A, khoảnh 4, tiểu khu B, diện tích 04ha, có tứ cận: Phía Đông giáp lô 8B; phía Bắc giáp Đập nước đỏ; phía T11 và phía Nam đều giáp đất nông nghiệp, khu dân, đúng phần diện tích mà gia đình ông M1 sử dụng ổn định từ năm 1991 đến nay đã 33 năm, hiện nay ông T2 đang tranh chấp.
* Tại đơn yêu cầu khởi kiện độc lập ngày 06/7/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ đều trình bày:
Do điều kiện kinh tế khó khăn, năm 1992 gia đình vào khai hoang vùng đất này, chưa có ai sử dụng mà do UBND xã quản lý để trồng chè đen, trồng sắn, khoai... với diện tích khoảng 01ha. Chúng tôi khẳng định việc UBND huyện H cấp sổ lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 tại khoảnh 04, tiểu khu B cho các hộ gia đình trong tổ hợp ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng, cũng như khi có các quyết định chia tách đất năm 1998 là đã cấp trùng lên phần đất gia đình tôi sử dụng trước đó, vì cơ quan Nhà nước không giao đất thực địa, mặt khác từ khi cấp sổ Lâm bạ cho đến nay gia đình tôi vẫn sử dụng vùng đất này mà không có ai tranh chấp. Năm 1999, gia đình tôi chuyển sang trồng keo, thu hoạch năm 2014, rồi tiếp tục trồng đến năm 2020 thu hoạch lứa keo thứ hai để bán thì ông T2 cản trở, tranh chấp. Diện tích đất chúng tôi sử dụng ổn định gần 33 năm.
Vì vậy ông P, bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Đức T2 chấm dứt hành vi cản trở và công nhận diện tích khoảng 01 ha đất đúng phần diện tích mà gia đình đã sử dụng ổn định từ năm 1991 cho đến nay cho ông P, bà Đ.
* Tại các văn bản số 16/BC-UBND ngày 07/3/2024, số 84/BC-UBND ngày 21/6/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã L trình bày:
Nguồn gốc diện tích 18ha đất rừng tại khoảnh 4, tiểu khu B, thôn Y, xã L trước năm 1994 có chương trình dự án PAM do HTX-D1 thành lập tổ trồng rừng hoạt động từ năm 1981 đến 1990, sử dụng chung của các đội trồng rừng, chưa cấp cho cá nhân nào, đất rừng do UBND huyện H quản lý. Ngày 05/12/1993 UBND xã L ban hành quyết định số 16/QĐ/UB thành lập tổ hợp trồng rừng 7 hộ gia đình như trên. Ngày 16/5/1994, UBND huyện H cấp sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB diện tích 18ha đất rừng (10ha đất rừng trồng cây T) tại khoảnh 4, tiểu khu B do tổ hợp ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng. Đến năm 1998, UBND huyện H chia tách phần diện tích đất cho các hộ gia đình trong tổ hợp ông T2 nhưng không giao đất thực địa. Từ năm 1994 đến năm 1998, cả 06 hộ trong tổ hợp này đã cùng nhận đất với ông T2 trên thực địa, sử dụng đất, trồng, chăm sóc cây cùng với nhau theo đúng chủ trương của Nhà nước.
Từ năm 1998 đến năm 2002, UBND huyện H chia tách đất theo sổ Lâm bạ bằng các quyết định giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, tổ hợp do ông T2 làm tổ trưởng không thực hiện. Riêng hộ bà M không có quyết định vì năm 1997 gia đình bà M đã rời khỏi địa phương vào cư trú tại Đà Nẵng, từ đó đến nay bà M chưa lần nào khiếu nại. Ngày 23/7/2002, UBND xã L đã tổ chức làm việc với ông T2 với các thành viên tổ hợp để thực hiện việc chia tách đất rừng và tại buổi làm việc này ông T2 đã thống nhất thực hiện, nhưng sau đó ông T2 lại không thực hiện chia tách dẫn đến tranh chấp. Ngày 24/10/2002, UBND xã L đã ra quyết định số 26/QĐ/UB đình chỉ việc tái thửa, trồng mới trên khu vực động C, động Đ, động Học Sinh thuộc tổ hợp 07 người do ông T2 làm tổ trưởng. Ngày 02/11/2002, UBND xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ/UB xử phạt cảnh cáo đối với ông T2 đã có hành vi không chấp hành việc chia tách giao đất rừng cho các hộ thành viên trong tổ hợp theo sổ Lâm bạ như biên bản đã thống nhất ngày 23/7/2002. Từ năm 2002 đến nay, các hộ trong tổ hợp đã chấp hành việc đình chỉ của UBND xã L nên không thực hiện canh tác lên diện tích đất tranh chấp, đồng thời thường xuyên kiến nghị cấp trên giải quyết nhưng không thành. Ngoài ra năm 2001, 2002 có các hợp đồng giao khoán giữa ông T2, ông M1 với Lâm trường L6, nhưng các hợp đồng này đến nay đã thanh lý hết hạn.
Còn phần diện tích khoảng 01ha mà gia đình ông P, bà Đ sử dụng, nguồn gốc từ năm 1992 gia đình vào khai hoang trồng chè đen, khoai, sắn,... gia đình ông P, bà Đ không có giấy tờ gì, hiện nay đang tranh chấp với ông T2. Phần diện tích này không nằm trong sổ Lâm bạ ông Lương Văn L2, mà nằm trong tổ hợp ông T2, một phần nằm trong diện tích 02ha tại lô 8B quyết định số 176/QĐ/UB của UBND huyện H chia cho ông T.
* Tại các văn bản số 748/UBND-KL ngày 02/4/2024, số 655/UBND-NNMT ngày 19/3/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan UBND huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trình bày:
Căn cứ quy định Luật đất đai ngày 08/01/1988; Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 19/8/1991; đơn xin cấp đất làm vườn đồi trồng cây phủ kín đồi núi trọc của đại diện tổ hợp, ngày 28/12/1993 có xác nhận UBND xã L và ý kiến UBND huyện H ngày 19/02/1994 nên UBND huyện H đã cấp sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 cho tổ hợp do ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng. Sau khi cấp sổ Lâm bạ cũng như khi có các quyết định chia tách năm 1998 thì không bàn giao đất ngoài thực địa cho các hộ gia đình, cá nhân. Từ khi cấp đến năm 2002, các hộ đều sử dụng canh tác chung trên toàn bộ diện tích được giao. Do các hộ xảy ra tranh chấp khai thác cây nên ngày 24/10/2002, UBND xã L đã ra quyết định số 26/QĐ/UB đình chỉ việc tái thửa, trồng mới trên khu vực động C, động Đ, động Học Sinh thuộc tổ hợp 07 người do ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng. Sổ Lâm bạ năm 1994 và các quyết định chia tách giao rừng, đất trồng rừng cho các hộ năm 1998 đến nay vẫn chưa bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc hủy bỏ nên vẫn còn có hiệu lực, giá trị pháp lý. Đối với bà Nguyễn Thị M không có quyết định của UBND huyện chia đất trong tổ hợp, mặt khác cũng không có hồ sơ thể hiện bà M khiếu nại.
Tại biên bản làm việc ngày 26/6/2024 giữa Tòa án với UBND huyện H và Hạt kiểm lâm H đã khẳng định sự mâu thuẫn giữa tài liệu các đương sự xuất trình và tài liệu UBND huyện, Hạt kiểm lâm huyện H cung cấp thì sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 là của tổ hợp gồm 07 người như trên, không cấp cho cá nhân ông T2, hiện nay sổ Lâm bạ đang có giá trị pháp lý, còn sổ Lâm bạ ông T2 xuất trình bị sửa chữa không có giá trị pháp lý; Quyết định số 178/QĐ-UB năm 1998 giao cho ông Lê Thanh M1 với diện tích 02ha trùng khớp với bản đồ giao đất Lâm nghiệp lưu trữ tại Hạt kiểm lâm H có giá trị pháp lý, còn Quyết định ông M1 xuất trình 04ha có sự tẩy xóa, không chính xác. Riêng Quyết định số 176/QĐ/UB, ngày 06/4/1998 của ông M1 là không nằm trong sổ Lâm bạ này. Ngoài ra tại văn bản số 202/PHHK-KHKT ngày 31/7/2024 Ban Q1, tỉnh Hà Tĩnh trả lời tại thời điểm đó B2 chỉ ký hợp đồng giao khoán để hỗ trợ về cây giống, còn đất không liên quan và hiện nay các hợp đồng này đều đã thanh lý không còn giá trị pháp lý.
Đồng thời quan điểm của UBND xã L, UBND huyện H và Hạt kiểm lâm huyện H đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, người liên quan ông P, bà Đ; còn bị đơn ông T2 và người liên quan ông M1 chỉ xem xét một phần để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự cũng như ổn định an ninh, trật tự tại địa phương.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Bà Nguyễn Thị M, ông Phạm Hồng S, bà Nguyễn Thị N5 thống nhất như lời khai ông Á; bà Nguyễn Thị T1, bàNguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị C2, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn V2 thống nhất như lời khai chị L; bà Hồ Thị T5 thống nhất như lời khai ông T2; bà Nguyễn Thị L1 thống nhất như lời khai ông M1; bà Nguyễn Thị N2 thống nhất như lời khai ông T; bà Nguyễn Thị Bích thống Nó như lời khai ông T3, ngoài ra không có gì khai thêm.
* Quá trình giải quyết vụ án và theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án người làm chứng ông Nguyễn Văn T6 trình bày:
Ông T6 là người đã ký Quyết định thành lập nhiều tổ hợp, trong đó có tổ hợp ông Lê Đức T2. Ngày 26/01/1994, tiếp tục 07 hộ trên lần lượt có đơn xin cấp đất xây dựng vườn rừng được UBND xã L xác nhận. Đến ngày 16/5/1994, UBND huyện H cấp sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB diện tích 18ha đất rừng, sau khi được giao đất 07 hộ gia đình trong tổ hợp đã nhận trồng rừng cây Bạch Đàn, cây T theo dự án PAM, chăm sóc cây cùng nhau trên toàn bộ diện tích đất. Năm 2000, ông T2 có đơn xin khai thác cây Bạch Đàn thì các hộ dân trong tổ hợp tranh chấp nên U, làm việc yêu cầu ông T2 thực hiện chia tách như các tổ hợp khác trên xã L và không được chặt phá, trồng mới. Tuy nhiên, ông T2 không chấp hành do đó UBND xã đã ra các văn bản xử lý như trong hồ sơ vụ án. Việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ xã tại thời điểm đó là ngày làm ½ ngày nên việc áp dụng pháp luật của UBND xã L như vậy là đúng.
* Quá trình giải quyết vụ án và theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ người làm chứng ông Nguyễn Xuân H3 và ông Mai Hải T7 trình bày:
Vào giai đoạn đó ở xã L ngoài tổ hợp ông T2 còn các tổ hợp khác như ông Lương Văn L2 (cùng thời gian thành lập và sát liền kề nhau, cùng chung bản đồ), ông Nguyễn Văn L3, ông Trần Thanh T12, ông Nguyễn Hồng A và ông Hồ T13 được đều được giao đất, sử dụng chung, sau này thực hiện chia tách cho các hộ dân. Chỉ có tổ hợp ông T2 không thực hiện đúng quy định Nhà nước nên các hộ xảy ra tranh chấp, ông Nguyễn Xuân H3 là người đã lập biên bản ngày 23/7/2002 trong tổ hợp ông T2, yêu cầu ông T2 thực hiện chia tách đất trong tổ hợp cho các thành viên và ông T2 đồng ý nhưng sau đó lại không chấp hành.
* Quá trình giải quyết vụ án và theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ người làm chứng ông Lương Văn L2, ông Nguyễn Hữu K, ông Nguyễn Xuân T8 và ông Lương Văn M2 trình bày:
Cùng thời điểm được cơ quan có thẩm quyền cùng thành lập tổ hợp, nằm liền kề với tổ hợp ông T2, có cùng Bản đồ giao đất tổ hợp năm 1994, bản đồ chia tách đất trong tổ hợp năm 1998. Ông L2 khẳng định trong tổ hợp ông T2 có tên 07 hộ trên, sau khi cấp đất các hộ đã sử dụng chung trồng cây, chăm sóc như tổ hợp ông L2. Năm 1998, UBND huyện có các quyết định chia tách đất trong tổ hợp thì bản thân ông L2 đã thực hiện chia cho các hộ, còn ông T2 cố tình không thực hiện gây khó khăn cho các hộ, nên xảy ra tranh chấp cho đến nay.
* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu do Toà án thu thập, thể hiện:
Thửa đất các bên tranh chấp diện tích thực tế là 214.771,2m² (21,4ha) đất rừng sản xuất (bao gồm 90 ngôi mộ lớn nhỏ chiếm diện tích 3.867m² (0,38ha), Hội đồng định giá tài sản không định giá vì các đương sự đều thống nhất đây là các ngôi mộ được chôn cất từ lâu, cũng liên quan đến người nhà, người trong xóm, xã nên nếu trường hợp Tòa án tuyên các phần đất này thuộc về ai thì các đương sự cũng thống nhất để các ngôi mộ nguyên vị trí đó và không có yêu cầu gì thêm. Còn các tài sản khác trên đất các đương sự đều thống nhất ở trên phần đất ai đang canh tác, sử dụng do chính người đó trồng, chăm sóc), sau khi trừ diện các ngôi mộ 3.867m² (0,38ha) còn lại diện tích 210.904,2m² (21ha) đất rừng sản xuất có trị giá 1.265.425.200 đồng và các loại tài sản trên đất, gồm: Cây Keo, cây Gió Trầm, cây B, cây M3, cây C4, cây Bưởi giá trị 1.434.801.165 đồng, tổng giá trị tài sản tranh chấp giá trị 2.700.226.365 đồng, thuộc khoảnh 4, tiểu khu B, thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có sơ đồ tọa độ kèm theo), cụ thể:
- - Phần diện tích đất rừng sản xuất hộ gia đình ông T2 đang sử dụng diện tích thực tế 155.850,9m² (15,5ha).
- - Phần diện tích đất rừng sản xuất hộ gia đình ông M1 đang sử dụng diện tích thực tế 44.899,4m² (4,4ha).
- - Phần diện tích đất rừng sản xuất hộ gia đình ông P và bà Đ đang sử dụng diện tích thực tế 10.153,9m² (1ha).
Tại bản thông báo Phòng K1 Công an tỉnh H số 1052/KL-KTHS ngày 16/8/2024 kết luận: Chữ viết, chữ ký trên mẫu cần giám định ký quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 UBND xã L, huyện H là của ông Nguyễn Văn T6; hình dấu có nội dung “U.B.N.D XÃ LỘC YÊN H. HƯƠNG KHÊ T. HÀ TĨNH” là con dấu sử dụng năm 2000; còn các nội dung khác từ chối giám định do vượt quá khả năng và không phù hợp với phạm vi chuyên môn; Tại văn bản trả lời thông tin con dấu phục vụ trưng cầu giám định số 576/QLHC ngày 15/8/2024 Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh H, cho biết: Hồ sơ lưu đăng ký mẫu con dấu tại phòng, gồm: Mẫu con dấu đăng ký ngày 21/9/1995 và Mẫu con dấu đăng ký ngày 11/8/2014.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đã căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, các khoản 1, 3 Điều 36, các điểm a, c khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, các Điều 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 101, 102, 104, 106, 147, khoản 1 Điều 157, các Điều 158, 160, 161, khoản 1 Điều 165, các Điều 166, 227, khoản 2, 3 Điều 228, khoản 1, khoản 2 Điều 229, các Điều 266, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 3, 8, 11, 12, 16, 17, 19, 116, 117, 119, khoản 2 Điều 129, khoản 3 Điều 155, các Điều 158, 166, 169, 189, 207, 217, 218, 219, 221 và 235 Bộ luật dân sự; 202 và 203 Luật đất đai 2013, các Điều 235, 236 Luật đất đai năm 2024; các khoản 3, 4 Điều 3, Điều 30, khoản 1 Điều 31, Điều 116; Điều 191, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194 Luật Tố tụng hành chính; Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Luật đất đai năm 1993; Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, ông Nguyễn Hữu T3 và bà Nguyễn Thị T1, cụ thể:
- - Công nhận cho nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á được quyền sử dụng thửa đất 235, diện tích 22.058,6m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 120, 121, 122, 123, 124, 116, 117 và 119, trị giá 120.351.600 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 143.095.200 đồng, tổng giá trị 263.446.800 đồng; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á đưa lại cho bị đơn ông Lê Đức T2 số tiền 138.745.200 đồng, giá trị tài sản cây Keo trên đất tương ứng ông Á được hưởng.
- - Công nhận cho nguyên đơn ông Trần Đức T được quyền sử dụng thửa đất 239, diện tích 20.026,9m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 và 37, trị giá 120.161.400 đồng và tài sản trên đất là cây Keo, cây Bạch Đàn trị giá 113.776.100 đồng, tổng giá trị 233.937.500 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn ông Trần Đức T đưa lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 số tiền 113.776.100 đồng, giá trị tài sản cây Keo, cây Bạch Đàn trên đất tương ứng ông T được hưởng.
- Buộc bị đơn ông Lê Đức T2 phải đưa lại số tiền 4.350.000 đồng cho nguyên đơn ông Trần Đức T.
- - Công nhận cho ông Nguyễn Hữu T3 được quyền sử dụng thửa đất 236, diện tích 38.174,2m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 116, 117, 118, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 110, 111, 112, 113, 114 và 115, trị giá 229.045.200 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 272.332.600 đồng, tổng giá trị 501.377.800 đồng; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T3 đưa lại cho bị đơn ông Lê Đức T2 số tiền 267.982.600 đồng, giá trị tài sản cây Keo trên đất tương ứng ông T3 được hưởng.
- - Công nhận cho bà Nguyễn Thị T1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn S1, gồm: Bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị C2, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn V2, bà Nguyễn Thị Hương L được quyền sử dụng thửa đất 234, diện tích 20.059,8m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 120, 121, 123,124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131 và 132, trị giá 120.358.800 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 95.079.700 đồng, tổng giá trị 215.438.500 đồng; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị T1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn S1, gồm: Bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị C2, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn V2, bà Nguyễn Thị Hương L liên đới đưa lại cho bị đơn ông Lê Đức T2 số tiền 90.729.700 đồng, giá trị tài sản cây Keo trên đất tương ứng bà T1 và các đồng thừa kế được hưởng.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M để buộc bị đơn ông Lê Đức T2 trả lại diện tích 3,15ha trong sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 UBND huyện H và trả lại số tiền 27.000.000 đồng thu lợi từ việc tỉa thưa khai bán thác cây T, Bạch Đ1.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1:
- - Công nhận cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 được quyền sử dụng thửa đất 238, diện tích 24.872,4m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21 và 22, trị giá 149.234.400 đồng và tài sản trên đất cây Keo, cây Gió Trầm, cây Bạch Đàn trị giá 123.860.800 đồng, tổng giá trị 273.095.200 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Không công nhận phần đất hiện nay thuộc thửa 238, diện tích 20.026,9m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm điểm thứ tự 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 và 37, trị giá 120.161.400 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 113.776.100 đồng, tổng giá trị 233.937.500 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M1.
3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ:
- Công nhận cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ được quyền sử dụng thửa đất 222, diện tích 10.153,9m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 28, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 109, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 38, 30 và 29, trị giá 60.923.400 đồng và các loại tài sản trên đất gồm: Nhà trại, hàng rào cột bê tông, hồ nuôi cá, cây Keo, cây G, cây B, cây M3, cây C4, cây B3 có trị giá 133.358.765 đồng, tổng giá trị 194.282.165 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đức T2:
- - Công nhận cho bị đơn ông Lê Đức T2 được quyền sử dụng thửa đất 237, diện tích 77.558,3m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 38, 39, 40, 41, 42, 43, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92 và 93, trị giá 465.349.800 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 553.298.000 đồng, tổng giá trị 1.018.647.800 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
- - Chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Đức T2, tuyên hủy quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 của UBND xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
- - Bác yêu cầu của bị đơn ông Lê Đức T2 yêu cầu hủy các quyết định số 168/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Nguyễn Hữu Á; quyết định số 176/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Trần Đức T; quyết định số 169/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Nguyễn Hữu T3; quyết định số 179/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Nguyễn Văn S1; quyết định số 178/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Lê Thanh M1 và quyết định số 177/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Lê Đức T2;
- - Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Đức T2 buộc người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 trả lại 30% giá trị cây Keo theo giá thị trường trước khi khai thác số cây Keo hiện nay.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 08/10/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị T1; ngày 14/10/2024, bị đơn ông Lê Đức T2 và ngày 03/10/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn rút toàn bộ nội dung kháng cáo, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo và các đương sự khác vẫn giữ nguyên ý kiến. Bị đơn ông Lê Đức T2 cung cấp bổ sung thêm các tài liệu mới là bản photo không chứng thực Biên bản họp giải quyết đơn thư, Biên bản xác minh về việc cháy rừng T, Bạch Đàn ngày 04/7/2003, Quyết định số 1157/QĐ-UBND ngày 09/4/2013 về việc cấp phép khai thác tận thu gỗ rừng T bị cháy, Bản án số 37/2021/HSST ngày 30/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, đơn xin kế hoạch trồng lại rừng đất 01 chuyển sang đất 01, các biên bản hòa giải giải quyết đất đai ngày 23/11/2002 và ngày 07/7/2021, bản đồ thiết kế trồng rừng, bản sao văn bản số 1313/UBND ngày 10/9/2014 về việc cho gia hạn thời gian khai thác gỗ rừng trồng thông nhựa bị cháy, bản sao văn bản số 51/UBND-VP ngày 03/5/2024 về việc trả lời đơn của ông Lê Đức T2, bản sao Giấy xác nhận tên Phan Văn T14, bản sao Biên bản làm việc ngày 07/3/2025, Đơn tố cáo, các biên bản giao nhận, Đơn khởi kiện của ông Lê Đức T2.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đều có ý kiến thống nhất như lời khai nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền UBND huyện H, UBND xã L, người làm chứng đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn không đồng ý với quan điểm của nguyên đơn vì yêu cầu khởi kiện không rõ, không chứng minh được vị trí đất cụ thể. Mặt khác, tại các văn bản mà bị đơn cung cấp thì các ý kiến quan điểm của UBND xã L và UBND huyện H có sự mâu thuẫn, tại bản án hình sự sơ thẩm ngày 30/11/2013 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê đã có nhận định về việc giao rừng và đất trồng rừng cho riêng ông Lê Đức T2 chứ không phải cho tổ hợp của ông T2 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê. Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người liên quan ông M1 không đồng ý với quan điểm của nguyên đơn và bị đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông M1, hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự; Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm và kết quả tranh tụng tại phiên toà đã đề nghị Hội đồng xét xử: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị Thích . Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Đức T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định Hành chính cá biệt” thụ lý giải quyết là đúng theo quy định về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các khoản 3, 4 Điều 3, Điều 30, 31, 32 Luật tố tụng hành chính; điểm 2 mục 2 Công văn số 64/2029/TANDTC-PC và giải đáp số 02/2016/GĐ-TANDTC.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị T1, bị đơn ông Lê Đức T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 làm trong thời hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị T1 có đơn xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Căn cứ khoản 3 Điều 284 Bộ luật tố tụng dân sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà M, ông Á, ông T và bà T1.
Tại phiên toà vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập và người làm chứng. Xét thấy những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do lần thứ ba, họ đều đã có đầy đủ lời khai tại hồ sơ, việc xét xử vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập và người làm chứng theo quy định pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Về nguồn gốc các thửa đất:
Toàn bộ diện tích đất 18ha tại khoảnh 04, tiểu khu B, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh trước năm 1994 là đất do nhà nước quản lý “...có chương trình dự án Pam do HTX-D1 thành lập tổ trồng rừng hoạt động từ năm 1981 đến 1990, sử dụng chung của các đội trồng rừng, chưa cấp cho cá nhân nào, đất rừng do nhà nước quản lý” (BL 290, 471). Căn cứ vào các tài liệu đang còn lưu trữ tại UBND huyện H, Hạt kiểm lâm H và các báo cáo UBND xã L cũng như các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm có căn cứ xác định: Ngày 16/6/1993 UBND xã L lập danh sách tổ hợp nhận đất rừng tại xóm I, xã M, gồm 7 hộ ông Á, ông T, ông T3, bà M, ông S1, ông M1 và ông T2 (BL 6) và quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 thành lập tổ hợp của UBND xã L, gồm 7 hộ gia đình trên giao ông T2 làm tổ trưởng tổ hợp (BL 7); ngày 28/12/1993 ông T2 làm đơn xin cấp 50ha làm vườn, đồi trồng cây, ông T2 viết, ký “Người đại diện tổ hợp” UBND xã L xác nhận “Đơn xin cấp đất làm vườn đồi của ông Lê Đức T2 là đúng thực tế đề nghị cấp trên ra quyết định cấp đất cho 07 hộ trên”, cùng ngày UBND huyện H xác nhận “Đồng ý cho Tổ hợp được nhận đất để xây dựng kinh tế theo mô hình vườn rừng. Chuyển Hạt kiểm lâm và các ngành liên quan hướng dẫn làm dự án và các thủ tục cấp đất theo luật lệ hiện hành” (BL 8), mặt khác tại “Bản đồ giao đất giao rừng cũng ghi rõ Tổ hợp ông L2 + Thân 1994” (BL 18) để khẳng định tại thời điểm đó trên địa bàn xã L ngoài tổ hợp ông T2, còn sát liên kề có tổ hợp ông Lương Văn L2 nữa nó phù hợp với lời khai người làm chứng ông Nguyễn Văn T6, ông Lương Văn L2, ông Nguyễn Xuân H3 (BL 253, 258). Ngoài ra chính tại giấy xin tỉa thưa bớt cây cành Bạch Đàn ngày 08/10/1999 ông T2 viết “………… của Tổ hợp dự án....” điều này chứng tỏ ông T2 cũng thừa nhận không phải của cá nhân (BL 241) và tại các đơn xin tách khỏi dự án ông M1 năm 2000 đều khẳng định, ông M1 thành viên dự án, được ông T2 cho ý kiến “...anh Lê Thanh M1 nằm trong tổng dự án, của chủ dự án Lê Đức T2 này đề nghị tách ra 10ha....”, cũng như ý kiến trình bày của UBND xã L và UBND huyện H.
Như vậy đủ cơ sở khẳng định sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 26/01/1994 của UBND huyện H diện tích 18ha đất rừng tại khoảnh 4, tiểu khu B, tứ cận: Phía Đông giáp tổ hợp ông L2, phía Tây giáp đập Nước đỏ, phía Bắc giáp Khe Nước đỏ, phía Nam giáp R; địa chỉ: Thôn Y, xã L là cấp cho tổ hợp gồm 7 hộ gia đình trên do ông T2 làm tổ trưởng.
Về nguồn gốc diện tích đất của ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ: Căn cứ lời khai của ông P, bà Đ, xác nhận của UBND xã L và quá trình sử dụng đất của ông P, bà Đ thì diện tích 01ha đất của ông P, bà Đ được ông bà khai hoang, sử dụng từ năm 1992, trước khi UBND huyện H cấp sổ lâm bạ cho tổ hợp 07 hộ gia đình do ông T2 làm tổ trưởng.
[2.2] Về quá trình canh tác, sử dụng, diện tích đất tranh chấp:
Theo lời trình bày của đương sự sau khi được cấp sổ Lâm bạ năm 1994 đến năm 1998 cả 07 người trong Tổ hợp này đã cùng nhận đất trên thực địa, sử dụng đất, trồng cây mới và chăm sóc số cây trước đấy của chương trình dự án Pam do HTX D1 trồng rừng theo đúng chủ trương Nhà nước. Từ năm 1998 đến năm 2002 UBND huyện H chia tách đất trong Sổ lâm bạ bằng các quyết định giao, sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân trên toàn xã L, cụ thể: Quyết định số 168/QĐ/UB giao ông Á diện tích 2ha đất lô 3B, quyết định số 176/QĐ/UB giao ông Thông sử D diện tích 2ha đất lô 8B, quyết định số 169/QĐ/UB giao ông T3 diện tích 3,8ha đất lô 9A + lô 9B, quyết định số 179/QĐ/UB giao ông S1 diện tích 2ha đất lô 3A, quyết định số 178/QĐ/UB giao ông M1 diện tích 2ha đất lô 8A, quyết định số 177/QĐ/UB giao ông T2 sử dụng diện tích 6,2ha đất lô 7, có kèm theo “Bản đồ giao đất Lâm Nghiệp Lộc Yên 1998” cho tổ hợp ông T2 và ông Lương Văn L2, điều đó khẳng định tổ hợp liền kề ông L2 đã thực hiện chia tách đầy đủ đúng theo lời khai người làm chứng ông Nguyễn Văn T6, ông Lương Văn L2, ông Nguyễn Xuân H3.
Tuy nhiên, chỉ có tổ hợp Lâm bạ số 106/QĐ/UB do ông T2 làm tổ trưởng không thực hiện nên ngày 23/07/2002 UBND xã L làm việc với ông T2 và các thành viên Tổ hợp và tại buổi làm việc này ông T2 đã thống nhất thực hiện chia tách và ngày 02/11/2002, UBND xã L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ/UB xử phạt cảnh cáo đối với ông T2 đã có hành vi không chấp hành việc chia tách giao đất rừng cho các hộ thành viên trong tổ hợp sổ Lâm bạ như biên bản đã thống nhất ngày 23/07/2002. Vì vậy, có căn cứ xác định tại thời điểm đó các hộ đã có sự khiếu nại, giải quyết và cơ quan nhà nước có văn bản xử lý với ông T2, nhưng không dứt điểm, phù hợp với ý kiến trình bày UBND xã L và huyện H đã trình bày. Nên diện tích đất trong Lâm bạ số 106/QĐ/UB thời gian qua ông Á, ông T, ông T3 và ông S1 đều có yếu tố canh tác, sử dụng và từ đó đến nay các hộ thường xuyên có đơn yêu cầu giải quyết, hòa giải nhưng không thành là có cơ sở.
[2.3] Đối với các nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Đức T2, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.3.1] Về việc yêu cầu hủy quyết định số 16/QĐ-UB ngày 05/12/1993 UBND xã L, huyện H thành lập tổ hợp trồng rừng:
Về mặt hình thức quyết định là của UBND xã L được ban hành dưới hình thức văn bản quyết định là đúng thẩm quyền theo quy định; nội dung của quyết định hành chính để điều chỉnh một đối tượng cụ thể là đất đai trong xã tại thời điểm năm 1993 thành lập Tổ hợp nhận đất trồng rừng và bảo vệ rừng có 7 hộ dân gồm: Ông Nguyễn Hữu T3, ông Nguyễn Văn S1, ông Lê Thanh M1, ông Trần Đức T, ông Nguyễn Hữu Á, bà Nguyễn Thị M và ông Lê Đức T2, trên cơ sở Nghị định của Thủ Tướng Chính phủ thì UBND xã giao nhận đất tại vị trí động C, động Học Sinh, động, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H;
Về tính hợp pháp thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành của quyết định hành chính bị kiện: Thẩm quyền ban hành quyết định thành lập tổ hợp là UBND xã L có thẩm quyền ban hành vào năm 1993. Tuy nhiên theo kết luận của Phòng K1 Công an tỉnh H hình dấu trên mẫu cần giám định quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 UBND xã L, huyện H, hình dấu có nội dung “U.B.N.D XÃ LỘC YÊN H. HƯƠNG KHÊ T. HÀ TĨNH” là con dấu của năm 2000, như vậy xét về trình tự ban hành quyết định số 16/QĐ-UB ngày 05/12/1993 UBND xã L là không đảm bảo, thời điểm ban hành sai mốc thời gian, do đó ông T2 đề nghị hủy quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 của UBND xã L là có căn cứ.
Mặc dù quyết định hành chính số 16/QĐ-UB ngày 05/12/1993 UBND xã L, huyện H thành lập tổ hợp trồng rừng bị sai về trình tự, thủ tục ban hành, nhưng không làm thay đổi bản chất của việc thành lập tổ hợp, vì ngoài văn bản này thì còn có nhiều tài liệu như: Danh sách tổ hợp nhận đất rừng ngày 16/6/1993; đơn xin cấp đất vườn đồi ngày 28/12/1993 của tổ hợp; các đơn xin cấp đất các hộ ngày 26/01/1994; sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/05/1994; bản đồ giao đất giao rừng tổ hợp ông T2 + ông L2 1994; bản đồ giao đất lâm nghiệp, Lộc Yên 1998; các văn bản số 32/UBND ngày 18/3/2025 của UBND xã L và văn bản số 655/UBND-NNMT ngày 19/3/2025 của UBND huyện H; lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì có cơ sở khẳng định sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 của UBND huyện H là cấp cho tổ hợp do ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng.
[2.3.2] Về yêu cầu hủy các quyết định chia tách đất trong tổ hợp năm 1998 của UBND huyện H:
Về mặt hình thức các quyết định này là của UBND huyện H được ban hành dưới hình thức văn bản quyết định cho từng chủ thể cá nhân là đúng về thẩm quyền. Nội dung của các quyết định hành chính này để điều chỉnh một đối tượng cụ thể là đất đai, phân chia đất cho từng hộ gia đình cá nhân trong tổ hợp sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 của UBND huyện H do ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng cho 6 hộ dân gồm: Ông Á, ông T, ông T3, ông S1, ông M1, và ông T2. Sau khi có các quyết định chia tách đất này thì các hộ dân gồm ông Á, ông T, ông T3, ông S1 và ông M1 đều đồng ý với sự chia tách này, riêng hộ ông T2 không đồng ý vì cho rằng đất là cấp riêng cho hộ ông T2 chứ không phải cho tổ hợp.
Về tính hợp pháp thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành của các quyết định hành chính bị kiện là căn cứ theo Luật đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản số 748/UBND-KL ngày 02/4/2024 và biên bản làm việc ngày 26/6/2024 của UBND huyện H, do đó không có căn cứ để hủy các quyết định trên đã cấp cho các hộ gia đình cá nhân trong tổ hợp Lâm bạ 106/QĐ/UB. Vì vậy, thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Hương Khê mà không phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để hủy các quyết định hành chính cá biệt trái pháp luật là đúng quy định pháp luật.
[2.3.3] Về yêu cầu buộc ông Lê Thanh M1 trả lại toàn bộ diện tích đất đang sử dụng và yêu cầu ông M1 phải trả lại 30% giá trị cây Keo theo giá thị trường trước khi khai thác:
Phần diện tích 44.899,4m² đất mà hiện nay ông M1 đang sử dụng trước năm 2000 là do tổ hợp sử dụng chung, sau khi được ông T2 chia tách cho ông M1 có các cơ quan Nhà nước xác nhận sử dụng ổn định từ đó đến nay. Mặt khác diện tích ông M1 đang sử dụng có một phần chia cho ông T, do đó không có căn để xem xét yêu cầu buộc ông M1 trả lại toàn bộ diện tích đất trên cho ông T2. Việc ông T2 cho rằng năm 2017 đã yêu ông M1 trả lại phần đất này, nhưng ông M1 không trả nên cả hai bên cùng trồng Keo xen lẫn nhau, ông M1 trồng khoảng 70%, còn ông T2 trồng 30% mà không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh, trong khi đó năm 2000 ông T2 đã đồng ý chia tách từ tổ hợp diện tích đất này cho ông M1 và hiện nay số cây Keo chưa khai thác, do đó không có căn cứ để xem xét yêu cầu của ông T2.
[2.3.4] Về yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ trả lại toàn bộ diện tích đất đang sử dụng:
Phần diện tích 10.153,9m² đất hiện nay ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ đang sử dụng từ năm 1992 đến nay, có đủ cơ sở xác định yếu tố canh tác, sử dụng liên tục do đó không có căn để xem xét yêu cầu buộc ông P, bà Đ trả lại diện tích đất trên cho ông T2.
[2.4] Đối với yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguồn gốc đất khi chưa cấp sổ Lâm bạ là do Nhà nước quản lý và ngày 16/6/1991 ông M1 làm đơn xin cấp đất vườn ở, rừng sản xuất được UBND xã L xác nhận trùng với diện tích trong quyết định 176/QĐ/UB ngày 06/4/1998 UBND huyện H, tại lô số 32, khoảnh 1, tiểu khu B diện tích 3,9ha là không nằm trong tổ hợp Lâm bạ số 106/QĐ/UB do ông Lê Đức T2 làm tổ trưởng.
Còn phần đất hiện nay ông M1 đang sử dụng có diện tích 44.899,4m² (đã trừ đi phần diện tích 304m² có 16 ngôi mộ lớn nhỏ) thì căn cứ vào nguồn gốc đất cho thấy đủ căn cứ khẳng định phần diện tích đất này nằm trong Tổ hợp Lâm bạ do ông T2 làm tổ trưởng.
Ngày 15/6/1998 UBND huyện H cấp quyết định số 178/QĐ/UBND lô số 8A, khoảnh 4, tiểu khu B diện tích 2ha, tứ cận: Đông giáp lô 8B, Bắc giáp Đập nước đỏ, T11, N7 đều giáp đất nông nghiệp và khu dân cư cho ông M1. Tuy nhiên có sự mâu thuẫn trong quyết định giữa tài liệu ông M1 cung cấp thể hiện diện tích “4ha”; còn tài liệu UBND huyện H cung cấp cho Tòa án thể hiện ghi “2ha” quá trình làm việc với Hạt kiểm Lâm H, UBND huyện đều đã khẳng định tài liệu do ông M1 xuất trình không chính xác, tại thời điểm đó các hộ chỉ được cấp diện tích mỗi hộ là 2ha “1ha loại cây Bạch Đàn tái sinh, 1ha làm vườn rừng sản xuất lâm nghiệp” đúng như “Bản đồ giao đất Lâm Nghiệp L 1998”. Quá trình giải quyết vụ án, ông M1 không xuất trình bản gốc quyết định này và không yêu cầu giám định làm rõ mâu thuẫn giữa hai quyết định thì theo khoản 2 Điều 91 BLTTDS đều cho thấy diện tích 44.899,4m² đất ông M1 đang sử dụng có một phần diện tích 02ha nằm trong quyết định của ông T là thành viên tổ hợp là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đối với quan điểm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông M1 tại phiên tòa là không có căn cứ, không đưa ra căn cứ chứng minh việc quản lý, sử dụng của ông M1 từ năm 1991 trên toàn bộ diện tích 4ha, điều này đã được ông M1 thừa nhận trong đơn xin tách, cũng như nội dung, thành phần hòa giải ở UBND xã L. Do đó, cần xem xét cho ông T đúng với diện tích được ghi trong quyết định số 176/QĐ/UB tháng 6/1998 và vị trí phần đất theo Bản đồ năm 1998 của UBND huyện H, phần diện tích còn lại lớn hơn cần xem xét giao cho ông M1 vì có công tôn tạo, sử dụng đất thời gian qua.
[3] Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, kết luận trưng cầu giám định và các tài liệu do Toà án thu thập, thể hiện:
Thửa đất các bên tranh chấp diện tích thực tế là 214.771,2m² (21,4ha) đất rừng sản xuất (bao gồm 90 ngôi mộ lớn nhỏ chiếm diện tích 3.867m² (0,38ha), Hội đồng định giá tài sản không định giá vì các đương sự đều thống nhất đây là các ngôi mộ được chôn cất từ lâu, cũng liên quan đến người nhà, người trong xóm, xã nên nếu trường hợp Tòa án tuyên các phần đất này thuộc về ai thì các đương sự cũng thống nhất để các ngôi mộ nguyên vị trí đó và không có yêu cầu gì thêm. Còn các tài sản khác trên đất các đương sự đều thống nhất ở trên phần đất ai đang canh tác, sử dụng do chính người đó trồng, chăm sóc), sau khi trừ diện các ngôi mộ 3.867m² (0,38ha) còn lại diện tích 210.904,2m² (21ha) đất rừng sản xuất có trị giá 1.265.425.200 đồng và các loại tài sản trên đất, gồm: Cây Keo, cây Gió Trầm, cây B, cây M3, cây C4, cây Bưởi giá trị 1.434.801.165 đồng, tổng giá trị tài sản tranh chấp giá trị 2.700.226.365 đồng, thuộc khoảnh 4, tiểu khu B, thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (có sơ đồ tọa độ kèm theo), cụ thể:
- - Phần diện tích đất rừng sản xuất hộ gia đình ông T2 đang sử dụng diện tích thực tế 155.850,9m² (15,5ha).
- - Phần diện tích đất rừng sản xuất hộ gia đình ông M1 đang sử dụng diện tích thực tế 44.899,4m² (4,4ha).
- - Phần diện tích đất rừng sản xuất hộ gia đình ông P và bà Đ đang sử dụng diện tích thực tế 10.153,9m² (01ha).
Tại bản thông báo Phòng K1 Công an tỉnh H số 1052/KL-KTHS ngày 16/8/2024 kết luận: Chữ viết, chữ ký trên mẫu cần giám định ký quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 UBND xã L, huyện H là của ông Nguyễn Văn T6; hình dấu có nội dung “U.B.N.D XÃ LỘC YÊN H. HƯƠNG KHÊ T. HÀ TĨNH” là con dấu sử dụng năm 2000; còn các nội dung khác từ chối giám định do vượt quá khả năng và không phù hợp với phạm vi chuyên môn; Tại văn bản trả lời thông tin con dấu phục vụ trưng cầu giám định số 576/QLHC ngày 15/8/2024 Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh H, cho biết: Hồ sơ lưu đăng ký mẫu con dấu tại phòng, gồm: Mẫu con dấu đăng ký ngày 21/9/1995 và Mẫu con dấu đăng ký ngày 11/8/2014.
Đối với yêu cầu triệu tập thêm một số người làm chứng và các tài liệu chứng cứ mà bị đơn cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng không có đủ căn cứ để được chấp nhận.
Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Bản án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, ông Nguyễn Hữu T3 và bà Nguyễn Thị T1; Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đức T2; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 là có căn cứ pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lê Đức T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1. Cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do những người kháng cáo đều thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với toàn bộ nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị Thích .
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Đức T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, ông Nguyễn Hữu T3 và bà Nguyễn Thị T1, cụ thể:
- - Công nhận cho nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á được quyền sử dụng thửa đất 235, diện tích 22.058,6m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 120, 121, 122, 123, 124, 116, 117 và 119, trị giá 120.351.600 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 143.095.200 đồng, tổng giá trị 263.446.800 đồng; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Á đưa lại cho bị đơn ông Lê Đức T2 số tiền 138.745.200 đồng, giá trị tài sản cây Keo trên đất tương ứng ông Á được hưởng.
- - Công nhận cho nguyên đơn ông Trần Đức T được quyền sử dụng thửa đất 239, diện tích 20.026,9m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 và 37, trị giá 120.161.400 đồng và tài sản trên đất là cây Keo, cây Bạch Đàn trị giá 113.776.100 đồng, tổng giá trị 233.937.500 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn ông Trần Đức T đưa lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 số tiền 113.776.100 đồng, giá trị tài sản cây Keo, cây Bạch Đàn trên đất tương ứng ông T được hưởng.
- Buộc bị đơn ông Lê Đức T2 phải đưa lại số tiền 4.350.000 đồng cho nguyên đơn ông Trần Đức T.
- - Công nhận cho ông Nguyễn Hữu T3 được quyền sử dụng thửa đất 236, diện tích 38.174,2m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 116, 117, 118, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 110, 111, 112, 113, 114 và 115, trị giá 229.045.200 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 272.332.600 đồng, tổng giá trị 501.377.800 đồng; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T3 đưa lại cho bị đơn ông Lê Đức T2 số tiền 267.982.600 đồng, giá trị tài sản cây Keo trên đất tương ứng ông T3 được hưởng.
- - Công nhận cho bà Nguyễn Thị T1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn S1, gồm: Bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị C2, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn V2, bà Nguyễn Thị Hương L được quyền sử dụng thửa đất 234, diện tích 20.059,8m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 120, 121, 123,124, 125, 126, 127, 128, 129, 130, 131 và 132, trị giá 120.358.800 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 95.079.700 đồng, tổng giá trị 215.438.500 đồng; địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị T1 và các đồng thừa kế của ông Nguyễn Văn S1, gồm: Bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị C2, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Văn V2, bà Nguyễn Thị Hương L liên đới đưa lại cho bị đơn ông Lê Đức T2 số tiền 90.729.700 đồng, giá trị tài sản cây Keo trên đất tương ứng bà T1 và các đồng thừa kế được hưởng.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M để buộc bị đơn ông Lê Đức T2 trả lại diện tích 3,15ha trong sổ Lâm bạ số 106/QĐ/UB ngày 16/5/1994 UBND huyện H và trả lại số tiền 27.000.000 đồng thu lợi từ việc tỉa thưa khai bán thác cây T, Bạch Đ1.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1:
- - Công nhận cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 được quyền sử dụng thửa đất 238, diện tích 24.872,4m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21 và 22, trị giá 149.234.400 đồng và tài sản trên đất cây Keo, cây Gió Trầm, cây Bạch Đàn trị giá 123.860.800 đồng, tổng giá trị 273.095.200 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Không công nhận phần đất hiện nay thuộc thửa 238, diện tích 20.026,9m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm điểm thứ tự 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36 và 37, trị giá 120.161.400 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 113.776.100 đồng, tổng giá trị 233.937.500 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông M1.
3. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ:
- Công nhận cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P và bà Lương Thị Đ được quyền sử dụng thửa đất 222, diện tích 10.153,9m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 28, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108, 109, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 93, 38, 30 và 29, trị giá 60.923.400 đồng và các loại tài sản trên đất gồm: Nhà trại, hàng rào cột bê tông, hồ nuôi cá, cây Keo, cây G, cây B, cây M3, cây C4, cây B3 có trị giá 133.358.765 đồng, tổng giá trị 194.282.165 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Lê Đức T2:
- - Công nhận cho bị đơn ông Lê Đức T2 được quyền sử dụng thửa đất 237, diện tích 77.558,3m² đất rừng sản xuất, được số hóa, định vị bằng vị trí tọa độ cố định, giới hạn bởi các điểm thứ tự 38, 39, 40, 41, 42, 43, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 92 và 93, trị giá 465.349.800 đồng và tài sản trên đất là cây Keo trị giá 553.298.000 đồng, tổng giá trị 1.018.647.800 đồng, địa chỉ: Thôn Y, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
- - Chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Đức T2, tuyên hủy quyết định số 16/QĐ/UB ngày 05/12/1993 của UBND xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh;
- - Bác yêu cầu của bị đơn ông Lê Đức T2 yêu cầu hủy các quyết định số 168/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Nguyễn Hữu Á; quyết định số 176/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Trần Đức T; quyết định số 169/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Nguyễn Hữu T3; quyết định số 179/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Nguyễn Văn S1; quyết định số 178/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Lê Thanh M1 và quyết định số 177/QĐ/UB tháng 6/1998 UBND huyện H đối với ông Lê Đức T2;
- - Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Lê Đức T2 buộc người có quyền lơi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1 trả lại 30% giá trị cây Keo theo giá thị trường trước khi khai thác số cây Keo hiện nay.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì người phải thi hành phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Các đương sự được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật.
(Diện tích phần, thửa đất và các tài sản gắn liền với đất chia cho các đương sự có sơ đồ kèm theo bản án là một phần không tách rời, các góc, cạnh diện tích phần, thửa đất có thể xê dịch theo số học khi giao đất thực địa).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Hữu Á, ông Trần Đức T, bà Nguyễn Thị T1, bị đơn ông Lê Đức T2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh M1.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính cá biệt
- Số bản án: 19/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy Quyết định hành chính cá biệt
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Hữu Á tranh chấp QSDĐ với ông Lê Đức T2
