|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/DS-PT.
Ngày: 06-3-2025.
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Quốc Bảo.
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Văn Dũng;
ông Nguyễn Hữu Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Mẫn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam: bà Phạm Thị Ngọc Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 130/2024/QĐXXPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: ông Đào Xuân K, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T: ông Đào Xuân K, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Số I đường H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
-
Bị đơn:
Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1968;
Bà Trần Thị P, sinh năm 1969.
Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Ông H, bà P có mặt.
Bà Nguyễn Thị Như N, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khối phố E, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Như N: ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1986; địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phan Thị Thanh T2, sinh năm 1980.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Tổ D, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số B đường Đ, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969.
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
-
Người làm chứng:
Ông Phạm Viết H1, sinh năm 1957.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1971.
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
-
Người kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Đào Xuân K và bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngày 29/8/2022, ông Đào Xuân K có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên cùng với ông Đoàn Văn Đ vào huyện N, tỉnh Quảng Nam gặp bà Nguyễn Thị N1. Bà Nguyễn Thị N1 giới thiệu các thửa đất tại xã T, huyện N để các ông xem thực tế thì trên thửa đất có 02 ngôi mộ và bà N1 nói rằng nếu mua thì chủ đất sẽ di dời mộ sau khi đặt cọc. Sau khi hỏi giá và tìm hiểu về các thửa đất thì ông Đào Xuân K đã gặp bà Nguyễn Thị Ngư N2, bà Phan Thị Thanh T2, ông Nguyễn Quốc H cùng nhau thương lượng mua bán đất. Trong quá trình thương lượng, giữa ông K và ông H không thống nhất được phương án di dời mồ mả nên ông H ra về. Tuy nhiên, bà T2, bà N2 đề nghị ông K đặt cọc 50.000.000 đồng để thương lượng với chủ các ngôi mộ, nếu được thì sẽ đặt cọc tiếp 150.000.000 đồng. Ông Đào Xuân K đã đồng ý và bà N2 đã ký vào “Giấy đặt cọc” lập ngày 29/8/2022 thay cho ông Nguyễn Quốc H. Thực hiện nội dung thỏa thuận trong “Giấy đặt cọc” ngày 29/8/2022, ông Đào Xuân K đã chuyển cho bà Nguyễn Thị Như N 50.000.000 đồng vào ngày 29/8/2022 và 150.000.000 đồng vào ngày 02/9/2022.
Ngày 12/9/2022, ông Đào Xuân K đã gặp ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P đặt cọc số tiền 900.000.000 đồng để ông H, bà P trả nợ vay Ngân hàng và làm thủ tục xóa thế chấp nhằm tiến hành giao kết hợp đồng chuyển nhượng như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, do các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, bà P đã hết thời hạn sử dụng đất mà chưa gia hạn và chưa có trích đo địa chính nên không thể công chứng được. Vì vậy, giữa ông Đào Xuân K và ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P ký kết hợp đồng đặt cọc có công chứng của Văn phòng C1 với số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng, bao gồm 900.000.000 đồng ông K chuyển ngày 12/9/2022 và 100.000.000 đồng ông H nhận từ bà N nhằm mục đích chuyển nhượng cho ông K, bà T 03 thửa đất số: 119, 233, 234, tờ bản đồ số 17 tại thôn Đ, xã T, huyện N. Theo thỏa thuận thì trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc, ông H, bà P phải có trách nhiệm hoàn chỉnh giấy tờ pháp lý đủ điều kiện chuyển nhượng để ký kết hợp đồng chuyển nhượng theo quy định pháp luật. Ngoài ra, cũng vào ngày 12/9/2022, ông K có ký với ông H “Hợp đồng đặt cọc” với nội dung: ông H cam kết chuyển nhượng cho ông K 07 thửa đất số: 232, 119, 234, 233, 139, 235, 230, tờ bản đồ số 17 tại thôn Đ, xã T, huyện N. Sở dĩ có hợp đồng này là vì các thửa đất của ông H đã hết thời hạn sử dụng đất mà chưa gia hạn, chưa có trích đo địa chính nên Văn phòng C2 công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ 07 thửa đất.
Mặc dù, các bên đã giao kết như trên nhưng sau một thời gian dài bà N và bà T2 không tổ chức di dời mồ mả trên đất để ông K tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng với ông H mà dùng số tiền 100.000.000 đồng chia nhau tiêu xài cá nhân. Ông K có liên hệ với ông H để hỏi lý do thì ông H nói ông H không có quan hệ họ hàng gì với bà N và không uỷ quyền cho bà N giao kết hợp đồng mà bà N đã tự ý nhận 100.000.000 đồng giúp ông H và cam kết di dời mồ mả thì bản thân ông H không thực hiện được.
Sau đó, ông K tố cáo bà N, bà T2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N về tội đưa thông tin giả, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng Kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra cho rằng hành vi của bà N không lừa đảo.
Vì vậy, ông K, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Như N trả lại số tiền cọc đã nhận là 200.000.000 đồng và bồi thường vi phạm thoả thuận đặt cọc là 200.000.000 đồng, tổng cộng 400.000.000 đồng; buộc ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P trả lại số tiền cọc 900.000.000 đồng và tiền phạt cọc là 900.000.000 đồng, tổng cộng là 1.800.000.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông K rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc phạt cọc đối với bà N, ông H, bà P và thay đổi yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông H, bà P, bà N phải trả lại số tiền đã nhận tổng cộng là 1.000.000.000 đồng; trong đó, ông H, bà P phải trả lại 1.000.000.000 đồng, bà N phải trả lại 100.000.000 đồng.
Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P trình bày:
Ông Nguyễn Quốc H thừa nhận có ký kết các hợp đồng đặt cọc ngày 12/9/2022 với ông K, bao gồm: 01 Hợp đồng đặt cọc có công chứng tại Văn phòng C1 và 01 Hợp đồng đặt cọc không được công chứng. Ông H thừa nhận có nhận của ông K số tiền 900.000.000 đồng và nhận từ bà N số tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo hợp đồng công chứng thì vợ chồng ông chỉ cam kết chuyển nhượng cho ông K 03 thửa đất và ông đã hoàn thành các thủ tục pháp lý cần thiết và thông báo cho ông K để ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng ông K không ký kết hợp đồng chuyển nhượng là vi phạm thỏa thuận đặt cọc đã ký kết. Vì vậy, ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị P không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bởi lẽ, vợ chồng ông K đã vi phạm Điều 2 Hợp đồng đặt cọc lập ngày 12/9/2022 nên phải chịu mất số tiền cọc theo quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự.
Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án bị đơn là bà Nguyễn Thị Như N và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà N trình bày:
Khoảng tháng 6 năm 2022, ông Nguyễn Quốc H có quen biết với bà N nên nhờ bà N bán giúp 07 thửa đất với giá mong muốn là 1.950.000.000 đồng. Tháng 8/2022, bà N tìm được khách mua là ông Đào Xuân K nên thỏa thuận bán cho ông K với giá 2.050.000.000 đồng.
Ngày 29/8/2022, bà N và ông K ký kết hợp đồng đặt cọc và bà N nhận của ông K 50.000.000 đồng là tiền cọc giữ chỗ thửa đất, sau đó ông K chuyển tiếp 150.000.000 đồng để đặt cọc nhận chuyển nhượng 07 thửa đất tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.
Bà N đã tiến hành thương lượng với ông Nguyễn Quốc H là chủ đất và người liên quan đến các ngôi mộ trên đất thì được thống nhất đồng ý di dời. Bà N đã chuyển cho ông H số tiền 100.000.000 đồng để đặt cọc việc chuyển nhượng các thửa đất. Sau đó, ông K đã gặp trực tiếp ông H để thỏa thuận việc mua bán để nhằm không cho bà N được hưởng chênh lệch và các bên đã ký kết hợp đồng đặt cọc với nhau để thỏa thuận việc chuyển nhượng.
Như vậy, trách nhiệm của bà N trong việc mua bán này là không còn nữa. Việc các bên không thỏa thuận được việc mua bán là lỗi ở các bên, bà N không liên quan. Số tiền 200.000.000 đồng mà bà N nhận từ ông K thì bà N đã chuyển cho ông H 100.000.000 đồng và 100.000.000 đồng còn lại bà N chia cho những người có tham gia giới thiệu mua bán bao, gồm: bà N1 15.000.000 đồng, bà T2 17.500.000 đồng, ông Nguyễn Tấn N3 (lái xe bà N) 10.000.000 đồng, ông C 10.000.000 đồng. Hiện nay, số tiền còn lại là 25.000.000 đồng.
Do đó, việc ông K, bà T khởi kiện yêu cầu bà N trả lại tiền đặt cọc 100.000.000 đồng là không có căn cứ nên bà N không chấp nhận.
Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đoàn Văn Đ trình bày:
Ông có tham gia chứng kiến việc giao dịch mua bán đất giữa các bên. Theo thỏa thuận của các bên khi bàn bạc việc giao kết hợp đồng thì ông K không đồng ý mua đất khi trên đất có mồ mả nhưng bà N nói rằng sẽ thương lượng để di dời mồ mả thì các bên mới ký kết hợp đồng đặt cọc vào ngày 29/8/2022. Sau đó, ông K liên hệ với ông H để ký kết hợp đồng vào ngày 12/9/2022. Tuy nhiên, ngày 12/9/2022, các bên ký kết với nhau 02 hợp đồng. Theo ông được biết thì hợp đồng viết tay ngày 12/9/2022 được lập sau hợp đồng công chứng ngày 12/9/2022, vì Văn phòng Công chứng chỉ chấp nhận công chứng đặt cọc chuyển nhượng 03 thửa đất, các thửa còn lại đã quá thời hạn sử dụng đất nên không công chứng được. Để đảm bảo theo thỏa thuận, các bên lập hợp đồng viết tay thỏa thuận chuyển nhượng 07 thửa đất như văn bản đã thể hiện.
Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị N1 trình bày: nội dung trình bày về lý do có 02 hợp đồng được ký vào ngày 12/9/2022 giữa các bên của ông Đoàn Văn Đ là đúng sự thật. Bản thân bà có giới thiệu mua bán đất như ông K trình bày, có nhận từ bà N số tiền 15.000.000 đồng.
Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Thanh T2 trình bày: bà có tham gia giới thiệu cho các bên mua bán đất, có chứng kiến các bên tiến hành giao dịch, thỏa thuận và có nhận của bà N số tiền 17.500.000 đồng.
Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn C trình bày: toàn bộ các ngôi mộ trên khu đất của ông Nguyễn Quốc H tại thôn Đ, xã T Bắc là của gia đình ông đã có từ lâu đời. Từ trước đến nay không có ai liên hệ với ông để bàn đến việc di dời mồ mả. Hiện nay, gia đình ông chưa có khu đất để di dời nên không đồng ý di dời các mồ mả này. Do sức khỏe của ông không tốt nên ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt ông trong quá trình giải quyết vụ án.
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm h khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 117, 119, 124, 131, 328, 407, 408 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P, bà Nguyễn Thị Như N phải trả lại số tiền đã nhận đặt cọc.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P có nghĩa vụ trả lại cho ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T số tiền 1.000.000.000 đồng. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Như N có nghĩa vụ trả lại cho ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T số tiền 100.000.000 đồng.
Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T về buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P, bà Nguyễn Thị Như N phải chịu phạt cọc số tiền tổng cộng là 1.100.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/9/2024, bị đơn ông Nguyễn Quốc H và ngày 25/9/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Như N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý vụ án, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị Như N, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không tuyên bố các hợp đồng đặt cọc vô hiệu là thiếu sót nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bổ sung nội dung này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N thì thấy:
[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các bị đơn về việc phạt cọc; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Theo sự thừa nhận của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất tại thôn Đ, xã T, huyện N, giữa nguyên đơn và bị đơn đã ký kết 03 Hợp đồng đặt cọc, cụ thể như sau:
Vào ngày 29/8/2022, ông K và bà N ký kết 01 Hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng 07 thửa đất của ông Nguyễn Quốc H tại thôn Đ, xã T, huyện N; theo đó, bà N đại diện cho ông H nhận số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng.
Ngày 12/9/2022, vợ chồng ông K, bà T ký kết 01 Hợp đồng đặt cọc với vợ chồng ông H, bà P, được Văn phòng C1 chứng nhận cùng ngày. Theo hợp đồng này thì ông K, bà T đặt cọc cho ông H, bà P số tiền 1.000.000.000 đồng để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 03 thửa đất tại thôn Đ, xã T, huyện N, giá chuyển nhượng là 1.950.000.000 đồng. Ông H, bà P đã nhận đủ số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng (trong đó, nhận của ông K 900.000.000 đồng và trước đó nhận từ bà N 100.000.000 đồng); thời hạn đặt cọc là 60 ngày, kể từ ngày 12/9/2022.
Cũng trong ngày 12/9/2022, giữa ông K và ông H còn ký kết 01 Hợp đồng đặt cọc khác, với nội dung ông K đặt cọc cho ông H số tiền 1.000.000.000 đồng để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 07 thửa đất tại thôn Đ, xã T, huyện N (trong đó có 03 thửa đất đã ký kết hợp đồng đặt cọc được công chứng), giá chuyển nhượng là 1.950.000.000 đồng; thời hạn đặt cọc là 60 ngày, kể từ ngày 12/9/2022. Tuy nhiên, quá thời hạn, các bên không tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận.
[2.3] Xét “Hợp đồng đặt cọc” lập ngày 29/8/2022 do ông Đào Xuân K và bà Nguyễn Thị Như N ký kết, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: theo sự thừa nhận của các đương sự thì ông H, bà P mới là người quản lý, có quyền sử dụng hợp pháp đối với các thửa đất mà bà N đã nhận tiền đặt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông K. Trong khi đó, ông H, bà P không ủy quyền cho bà N xác lập giao dịch dân sự liên quan đến các thửa đất này nên bà N không có quyền đại diện cho ông H, bà P ký kết hợp đồng đặt cọc và nhận tiền đặt cọc từ ông K. Do đó, Hợp đồng đặt cọc này bị vô hiệu do vi phạm điểm a khoản 1 Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N trả lại cho nguyên đơn số tiền đặt cọc đã nhận 100.000.000 đồng (nhưng chưa chuyển cho ông H) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.4] Xét “Hợp đồng đặt cọc” được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 12/9/2022 giữa ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T với ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P và “Hợp đồng đặt cọc” được ký kết ngày 12/9/2022 giữa ông K với ông H không được công chứng, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Đối với “Hợp đồng đặt cọc” đã được công chứng ngày 12/9/2022, có hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nhưng nội dung không đúng với ý chí của ông K, bà T và ông H, bà P, vì các bên thừa nhận việc đặt cọc số tiền 1.000.000.000 đồng là để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 07 thửa đất chứ không phải 03 thửa đất như nội dung Hợp đồng đặt cọc. Do đó, Hợp đồng đặt cọc này bị vô hiệu do không đúng với ý chí của các bên.
Đối với “Hợp đồng đặt cọc” được ký kết ngày 12/9/2022 giữa ông K với ông H không được công chứng, mặc dù không có chữ ký của bà T (vợ ông K) và bà P (vợ ông H) nhưng bà T (do ông K đại diện theo ủy quyền) và bà P đều thừa nhận có biết và thống nhất với nội dung Hợp đồng đặt cọc này, không có ý kiến phản đối gì nên hợp đồng vẫn có hiệu lực.
[2.5] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành, thể hiện: hiện trạng thửa đất số 1892 (139), tờ bản đồ số 21 (17) tại thôn Đ, xã T, huyện N hiện có 05 ngôi mộ của gia đình ông Nguyễn Văn C đang tồn tại trên đất, chưa được di dời. Do trên diện tích đất mà các bên thỏa thuận đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng còn nhiều ngôi mộ của gia đình ông C chưa được di dời nên ông K, bà T từ chối, không đồng ý giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H, bà P. Xét thấy, trong Hợp đồng đặt cọc ngày 12/9/2022 (hợp đồng không có công chứng) các bên không thỏa thuận nghĩa vụ di dời các ngôi mộ là do ai thực hiện và hiện nay gia đình ông C cũng không đồng ý di dời các ngôi mộ này; do đó, việc ông K, bà T từ chối, không đồng ý giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H, bà P, với lý do các ngôi mộ có trên đất chưa được di dời, không phải do lỗi của ông K, bà T. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H, bà P phải trả lại cho ông K, bà T số tiền đặt cọc đã nhận 1.000.000.000 đồng (trong đó, nhận của ông K 900.000.000 đồng và trước đó nhận từ bà N 100.000.000 đồng) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của Kiểm sát viên.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N mỗi người phải chịu số tiền 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/DS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 38, 39, 147, 148 và 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 117, 119, 122, 126, 131, 328 và 407 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 và Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P, bà Nguyễn Thị Như N phải chịu phạt cọc số tiền tổng cộng là 1.100.000.000 (Một tỷ một trăm triệu) đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị P, bà Nguyễn Thị Như N trả lại số tiền đặt cọc đã nhận.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị P có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn ông Đào Xuân K và bà Nguyễn Thị T số tiền là 1.000.000.000 (Một tỷ) đồng.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Như N có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn ông Đào Xuân K và bà Nguyễn Thị T số tiền là 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị P phải chịu số tiền là 42.000.000 (Bốn mươi hai triệu) đồng; bà Nguyễn Thị Như N phải chịu số tiền là 5.000.000 (Năm triệu) đồng; ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T không phải chịu, hoàn trả lại cho ông Đào Xuân K, bà Nguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 38.000.000 (Ba mươi tám triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006472 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N mỗi người phải chịu số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị Như N đã nộp theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006782 ngày 09/10/2024 (do Nguyễn Minh T3 nộp thay) và số 0006819 ngày 15/10/2024 (do Nguyễn Tấn D nộp thay) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (06/3/2025).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Quốc Bảo |
Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 19/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Xuân K - Nguyễn Quốc H, Trần Thị P, Nguyễn Thị Như N: tranh chấp về hợp đồng đặt cọc
