|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/DS-PT Ngày 14 - 02 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Sơn La. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.
Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Kim Liên; bà Tòng Thị Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Sòi Ngọc An Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 20/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 23/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 12 năm 2024 và số 32/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Vũ Văn T. Địa chỉ: Tổ 3, phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- - Bị đơn: Bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H. Địa chỉ: Tổ 3, phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Bà T có mặt, ông H vắng mặt ủy quyền cho bà T.
- - Người kháng cáo: Bà Chu Thị T - Bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của ông Vũ Quang H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Vũ Văn Tuấn trình bày như sau:
Ngày 31/7/2020, ông Vũ Văn T có cho vợ chồng ông Vũ Quang H và bà Chu Thị T vay số tiền 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng). Thời hạn vay đến 31/12/2020, mức lãi suất 18% một năm. Ông Vũ Quang H và bà Chu Thị T đã trả số tiền lãi 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) vào ngày 28/8/2020.
Ngày 29/12/2020, ông Vũ Văn T tiếp tục cho vợ chồng ông Vũ Quang H và bà Chu Thị T vay số tiền 1.200.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng). Thời hạn vay đến 01/6/2021, mức lãi suất 18% một năm. Ông Vũ Quang H và bà Chu Thị T đã trả số tiền lãi 24.000.000 đồng (hai mươi tư triệu đồng) vào ngày 27/01/2021.
Ông H, bà T thế chấp cho ông T 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chủ cũ và các Hợp đồng chuyển nhượng giữa các chủ cũ và ông H, bà T. Nội dung thế chấp do bà T tự viết dưới phần ký tên của Giấy vay tiền.
Đến nay, ông H và bà T chưa thanh toán được số tiền vay gốc nên ông T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Vũ Quang H và bà Chu Thị T phải trả số tiền vay gốc tổng cộng là 2.700.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm triệu đồng). Tại bản khai, ông T đề nghị hoặc làm thủ tục trả cho ông bằng 02 thửa đất bà T đã giao giấy chứng nhận cho ông T khi vay.
Tại đơn khởi kiện, ông T không yêu cầu bị đơn trả lãi.
Tại các đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, ông T bổ sung yêu cầu tính lãi với mức lãi xuất 18%/1 năm đã ghi tại các giấy vay tiền. Tổng số tiền lãi của 2 khoản vay tính từ ngày vay đến ngày 07/8/2024, trừ số tiền lãi đã trả một lần 45.000.000 đồng, một lần 36.000.000 đồng, nợ lãi còn phải trả 1.782.800.000 đồng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H trình bày như sau:
Vợ chồng ông bà có vay ông T số tiền 2.700.000.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm triệu đồng) theo các giấy vay tiền ngày 31/7/2020 và ngày 29/12/2020. Hai bên thỏa thuận tài sản thế chấp của giấy vay ngày 31/7/2020 đúng như ông T trình bày.
Đối với tài sản thế chấp ngày 29/12/2020, không phải là các giấy chứng nhận và hợp đồng chuyển nhượng như thế chấp ngày 31/7/2020. Bà T có nhắn tin thỏa thuận trước với ông T về việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà tại tổ 5, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, bà T đã giao giấy chứng nhận cho ông T mà quên không ghi rõ vào giấy vay.
Về mức lãi suất, mặc dù giấy vay do bà T tự viết, ghi 18% một năm, nhưng thực tế hai bên thỏa thuận mức lãi xuất 1.000 đồng trên 1.000.000 đồng một ngày. Bà T đã nhận tiền vay do ông T chuyển vào tài khoản của ông H. Ông T đã trích lại số tiền lãi vay trong hạn theo thỏa thuận ngay khi chuyển khoản. Ngoài ra, bà T đã chuyển khoản tiền lãi vay hàng tháng cho ông T đến tháng 7 năm 2021. Từ đó đến nay, ông bà không trả tiền lãi hàng tháng và chưa trả được tiền vay gốc.
Nay ông T khởi kiện, ông bà nhất trí có trách nhiệm trả số tiền 1.500.000.000 đồng vay ngày 31/7/2020.
Đối với khoản vay ngày 29/12/2020, đến năm 2021, ông bà và ông T đã có thỏa thuận mới về việc ông bà vay thêm ông T 1.800.000.000 đồng, ghi giấy nhận tiền bán đất tại tổ 5, phường Chiềng Sinh cho ông T với số tiền 3.000.000.000 đồng. Thực tế ông T chỉ chuyển khoản cho ông bà T H 1.450.000.000 đồng với lý do cắt lãi 550.000.000 đồng. Về khoản tiền giao dịch này, ông T đã khởi kiện ông bà T H vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đã có bản án xét xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Do vậy, ông bà T H không đồng ý với yêu cầu của ông T về trả số tiền 1.200.000.000 đồng theo giấy vay ngày 29/12/2020.
Do không thỏa thuận được với ông T về giá trị 02 thửa đất mang tên chủ cũ để trả nợ nên ông T khởi kiện. Tại Tòa án, ông bà đề nghị được tự thỏa thuận giải quyết việc thế chấp, cùng ông T thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác để lấy tiền trả nợ cho ông T; đồng thời đề nghị Tòa án xem xét việc nhập vụ án vào vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T và ông bà để giải quyết.
Tại phiên tòa, bà T yêu cầu ông T trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các hợp đồng chuyển nhượng kèm theo, đã ghi tại giấy vay ngày 31/7/2020.
* Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã Quyết định:
Căn cứ vào Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; các Điều 167, 168 của Luật Đất đai; các Điều 117, 123, 131, 317, 319, 323, 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc bị đơn ông Vũ Quang H và bà Chu Thị T phải trả cho ông Vũ Văn T tổng số tiền vay gốc và lãi tính đến hết ngày 07/8/2024 là 3.796.843.500 đồng (Ba tỷ, bảy trăm chín mươi sáu triệu, không trăm bốn mươi ba nghìn, năm trăm đồng).
Gồm các khoản sau đây:
Tại Giấy vay tiền ngày 31/7/2020:
Số tiền vay gốc còn lại 1.241.469.000 đồng; số tiền nợ lãi tính đến hết ngày 30/7/2021 là 5.866.000 đồng, số tiền nợ lãi tính từ ngày 31/7/2021 đến ngày 31/7/2024 là 18.622.000 đồng x 36 tháng = 670.392.000 đồng; số tiền nợ lãi tính từ ngày 01/8/2024 đến ngày 07/8/2024 = 620.700 đồng x 7 ngày = 4.345.000 đồng.
Tại Giấy vay tiền ngày 29/12/2020:
Số tiền vay gốc 1.147.000.000 đồng; số tiền nợ lãi tính đến ngày 29/7/2024 là 17.205.000 đồng x 42 tháng = 722.610.000 đồng; số tiền nợ lãi tính từ ngày 30/7/2024 đến ngày 07/8/2024 = 573.500 đồng x 9 ngày = 5.161.500 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận, theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông Vũ Văn T phải trả cho ông Vũ Quang H, bà Chu Thị T: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD499292, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 302931 (ghi tại Giấy vay tiền ngày 31/7/2020) và 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất kèm theo, gồm: Hợp đồng ngày 8/7/2020 giữa bà Lý Thị H (Lý Thị L) và bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H; Hợp đồng ngày 08/10/2019 giữa bà Trần Thị Thu H, ông Nguyễn Hồng P và bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị. Ngày 22/8/2024, bị đơn bà Chu Thị T có đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
* Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm:
Các đương sự không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ và cũng không đề nghị Toà án cấp phúc thẩm thực hiện thu thập thêm tài liệu, chứng cứ. Do đó, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 35/2022/TLST-DS ngày 05/5/2022 của Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La là căn cứ để Toà án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Các đương sự; người đại diện của đương sự có mặt tại phiên toà không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- - Nguyên đơn ông Vũ Văn T nêu ý kiến: Không nhất trí với kháng cáo của bị đơn, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- - Bị đơn và người đại diện theo uỷ quyền bị đơn có mặt tại phiên toà nêu ý kiến: Không nhất trí với toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
- - Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa, nhận thấy các nội dung được giải quyết, quyết định tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Chu Thị T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Vũ Văn T khởi kiện yêu cầu bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H phải trả số tiền vay gốc tổng cộng là 2.700.000.000 đồng và mức lãi suất 18%/01 năm tính từ ngày vay đến ngày 07/8/2024 là 1.782.800.000 đồng. Bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại tổ 3, phường Q T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, không kháng cáo; bị đơn bà Chu Thị T không nhất trí với toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm có đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo thông báo của Tòa án trong hạn luật định. Xét đơn kháng cáo của bị đơn bà Chu Thị T được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó, đơn kháng cáo được chấp nhận xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Vũ Quang H có ủy quyền cho bà Chu Thị T tham gia phiên tòa, ông H vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm. Xét thấy việc ủy quyền đảm bảo theo quy định, căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Vũ Quang H tại phiên tòa.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1] Giữa ông Vũ Văn T và bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H có thỏa thuận ký kết với nhau 02 Giấy vay tiền gồm: Giấy vay tiền ngày 31/7/2020, nội dung ông T cho bà T, ông H vay số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 31/12/2020, lãi suất 18%/năm. Giấy vay tiền ngày 29/12/2020, nội dung ông T cho bà T, ông H vay số tiền 1.200.000.000 đồng, thời hạn vay đến ngày 01/6/2021, lãi suất 18%/năm.
[2.2] Bị đơn thừa nhận đã nhận đủ số tiền tại giấy vay tiền ngày 31/7/2020, chưa thanh toán tiền gốc và nhất trí trả cho nguyên đơn.
Đối với Giấy vay tiền ngày 29/12/2020 bị đơn cho rằng đã có thỏa thuận khác với nguyên đơn về việc vay thêm số tiền 1.800.000.000 đồng và ghi gộp vào giấy biên nhận bán đất ngày 01/6/2021, tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng, đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tổ 5, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La. Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là vô hiệu, đã được giải quyết bằng Bản án dân sự phúc thẩm số 30/2024/DS-PT ngày 19/3/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm số 71/QĐ-SCBSBA ngày 05/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La. Tại bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật trên, xác định giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất 2.000.000.000 đồng tại hợp đồng là do các đương sự khai thấp hơn giá trị thực tế để tránh bị tính thuế cao, thực tế lập giấy biên nhận bán đất ngày 01/6/2021, tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng. Do đó, ngoài nội dung kháng cáo bà T không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác, không có căn cứ cho rằng số tiền 1.200.000.000 đồng tại Giấy vay tiền ngày 29/12/2020 đã được các bên thỏa thuận lại vào khoản tiền khác theo giấy biên nhận ngày 01/6/2021 hay khoản tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
[2.2] Ngoài ra, tại Giấy vay tiền ngày 31/7/2020, các bên có thực hiện biện pháp bảo đảm cho giấy vay tiền trên là thế chấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD499292 và AA302931, bà T thừa nhận chữ viết trong giấy vay tiền là do bà T tự viết, có chữ ký của bà T, ông H. Tuy nhiên việc thế chấp không được thực hiện thành văn bản có công chứng, chứng thực. Hơn nữa, bà T ông H chưa đăng ký đất đai, chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ông T không xem xét, kiểm tra, thực hiện việc đăng ký thế chấp theo quy định. Do đó, việc thực hiện biện pháp bảo đảm cho giấy vay tiền trên là thế chấp 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD499292 và AA302931 giữa ông T và bà T, ông H là chưa đúng theo quy định của pháp luật.
[3] Về số tiền gốc và khoản tiền lãi
[3.1] Qua đối chiếu các bản sao kê đương sự nộp, tổng số tiền bà T, ông H chuyển vào tài khoản ông T đến ngày 15/7/2021 là 502.500.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm đối trừ số tiền lãi đã trả cao hơn số tiền lãi phải trả vào số tiền gốc để tính số tiền lãi của tháng sau trên số tiền vay gốc còn lại, xác định số tiền gốc và lãi còn phải trả tại thời điểm ngày 31/7/2021 là căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.
Đối với khoản vay ngày 29/12/2020, ông T không chuyển đủ số tiền vay gốc đã thỏa thuận, phù hợp với lời khai của các bên đương sự, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận giải quyết tiền gốc và tiền lãi trên số tiền thực tế đã chuyển khoản là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật.
[3.2] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Tn, ông H trả số tiền lãi ghi tại 02 giấy vay tiền (18%/năm) là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự và Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về phần tuyên lãi suất chậm thi hành án của Tòa án cấp sơ thẩm: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hai bên có thỏa thuận việc trả lãi, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên lãi suất chậm thi hành án theo đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Chu Thị T, cần giữ nguyên quyết định tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tại phiên toà.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Chu Thị T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 26/2024/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bà Chu Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số: 0002111 ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (14/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Tuấn Long |
Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 19/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Vũ Văn T khởi kiện yêu cầu bà Chu Thị T, ông Vũ Quang H phải trả số tiền vay gốc tổng cộng là 2.700.000.000 đồng và mức lãi suất 18%/01 năm tính từ ngày vay đến ngày 07/8/2024 là 1.782.800.000 đồng. Bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại tổ 3, phường Q T, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là có căn cứ, đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
