Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/DS-PT

Ngày: 20/02/2025

“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung, ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên

Trong ngày 20/02/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 90/2024/TLPT-DS ngày 05/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXPT-DS ngày 03/02/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1954 (đã chết năm 2023).
  2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; Có mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1960; địa chỉ: K thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Bỉnh H, sinh năm 1949. Có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị B1, sinh năm 1952. Có đơn xin xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm 1, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

  1. Anh Nguyễn Bỉnh N1, sinh năm 1978. Có đơn xin xử vắng mặt.
  2. Chị Phạm Thị L1, sinh năm 1976. Có đơn xin xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và là người đại diện theo ủy quyền cho ông H, bà B1, anh N1, chị L1: Bà Trần Thị Hải L2, Luật sư thuộc văn phòng L3; địa chỉ: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Ngọc B và là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; Có mặt.
  2. Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1979; Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm 3, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

  1. Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm 7, xã Quỳnh Châu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

  1. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1983; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 1, xã Hội Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An

  1. Chị Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1985; Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm I, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An

  1. Anh Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1988; Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An

Người đại diện theo ủy quyền của anh T, chị T1, chị V, chị H1, anh Đ: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của chị Nguyễn Thị T1:

  1. Trần Anh T2, sinh năm 1976 (chồng chị T1). Vắng mặt.
  2. Trần Anh T3, sinh năm 2008 (con chị T1). Vắng mặt.
  3. Trần Anh T4, sinh năm 2011 (con chị T1). Vắng mặt.
  4. Nguyễn Thị Anh T5, sinh năm 2016 (con chị T1). Vắng mặt.

Người đại diện cho cháu T3, T4, T5: Anh Trần Anh T2, sinh năm 1976. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Trần Anh T2: bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo khởi kiện ngày 10/02/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị L trình bày:

Năm 1993, Nhà nước có chủ trương giao đất rừng, nên vùng đất rừng tại H, thuộc xóm A, xã Q, được cấp lâm bạ xanh cho ông Nguyễn Bỉnh V1 và ông Phạm Xuân C làm đại diện. Tổ trồng rừng hoạt động được một thời gian, do không có hiệu quả nên đã họp lại và quyết định chia cho từng hộ quản lý và sử dụng. Khi chia đất để sản xuất không có giấy tờ gì nhưng có đo đạc trên thực địa và cắm mốc cho từng hộ, sau đó các hộ gia đình bắt thăm và sử dụng canh tác.

Vợ chồng ông B, bà L được chia phần đất 29.721m² giáp với thửa nhà ông Nguyễn Bỉnh H (thuộc tổ trồng ông Phạm Xuân C).

Năm 1998, sau nhận đất của tổ chia xong, vợ chồng ông B, bà L tiến hành trồng cây trên đất và sử dụng ổn định. Đến năm 2004, có chủ trương đo lại bản đồ địa chính để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do thời điểm đo đạc gia đình bà L không ở nhà nên đoàn đo đạc đã ghi thửa đất của vợ chồng bà L, ông B là thửa 223 tờ bản đồ số 4 diện tích 29.721m² thuộc Ủy ban nhân dân xã.

Năm 2013, có chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên Ủy ban nhân dân xã Q đã tiến hành xác định lại ranh giới mốc giới và hiện trạng thửa đất, cũng như các thủ tục khác để vợ chồng bà L làm bìa đối với thửa đất này. Nên ông Nguyễn Bỉnh H cũng đã ký vào biên bản xác định ranh giới mốc giới là hộ liền kề.

Sau khi được giao đất từ năm 1998, thì vợ chồng ông B, bà L trồng cây sử dụng ổn định không tranh chấp, nhưng đến khoảng năm 2014 thì vợ chồng ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1 lại chặt cây của gia đình bà L, sử dụng lấn sang phần đất của gia đình bà L. Gia đình bà L có báo với chính quyền thì ông H đã thừa nhận sai và trả lại đất, nên không lập biên bản. Sau đó vài năm gia đình ông H tiếp tục có hành vi lấn đất, thì Ủy ban nhân dân xã Q xuống làm việc, ông H lại trả lại đất cho gia đình bà L. Tháng 6 năm 2020, ông H, anh N1 tiếp tục lấn đất và lấn nhiều hơn nên vợ chồng bà L đã yêu cầu Ủy ban nhân dân xã lập biên bản. Tại biên bản hòa giải ở xã anh N1, ông H thống nhất trả lại diện tích đất lấn chiếm cho ông B, bà L, vì tình làng nghĩa xóm, bà L ông B nhất trí lấy 1.300m² nhưng lên cắm mốc thì ông H lại không nhất trí.

Nay bà L chỉ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 trả lại cho gia đình bà L diện tích lấn chiếm là 4595,5m² tại thửa đất số 223 tờ bản đồ số 3 (bản đồ địa chính), vùng H, xã Q, huyện Q. Cụ thể: Phía Bắc giáp đất ông H 275,3m; Phía Nam giáp đất ông B bà L 235,35m; Phía Tây giáp đất sản xuất nông nghiệp 42,59m; Phía Đông giáp đất anh Đinh Văn N2 16,99m.

Tại phiên tòa, bà L xin rút yêu cầu bồi thường về cây bị chặt và buộc ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 phải tự thu hoạch số cây tràm trồng từ tháng 5 năm 2024 trên diện tích đất 4595,5m² để trả lại đất cho bà và và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Hoàng Thị N thống nhất như lời trình bày của bà Nguyễn Thị L về nguồn gốc đất, phần diện tích đất bị lấn chiếm và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà N không trình bày bổ sung gì thêm.

Bị đơn ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1 và chị Phạm Thị L1 thống nhất trình bày:

Khoảng trước năm 1990, Ủy ban nhân dân xã Q giao cho 2 tổ làm vùng đất Hòn Gồm này là tổ ông Nguyễn Bỉnh V1 và tổ ông Phạm Xuân C. Gia đình ông H thuộc tổ trồng rừng ông Phạm Xuân C. Năm 1997, được cấp lâm bạ xanh cho 6 hộ trồng rừng với diện tích 85.000m² trong đó có hộ ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1. Trong tổ chia ra cho 6 hộ, có chia ranh giới cho các hộ để sử dụng phần được giao. Đến năm 2015, ông H, bà B1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 444247 ngày 09/9/2015 đối với thửa 221 tờ bản đồ số 3 diện tích 11.667m², có tứ cận: Phía Bắc giáp phần đất của ông Nguyễn Đình T6 dài 300m, phía Nam giáp đất bà L, ông B (ghi trong bìa đất là đất UBND xã) và đất ông Đinh Văn H2; Phía đông giáp đất sản xuất nông nghiệp; Phía tây giáp đất ông Phạm Văn T7.

Ông H, bà B1 sử dụng quản lý đến năm 2020 thì chuyển lại cho vợ chồng anh N1, chị L1 canh tác sử dụng. Anh N1, chị L1 canh tác sử dụng theo ranh giới mà trước đây ông H, bà B1 sử dụng. Hiện tại trên phần đất này vợ chồng anh có trồng keo phủ kín toàn bộ.

Năm 2014, có tranh chấp ranh giới với ông B, bà L, Ủy ban nhân dân xã và hai bên đã xác định hố bom (tính từ chân núi lên khoảng 15m) là ranh giới (ông H sử dụng một phần hố bom, còn ông B sử dụng 2 phần hố bom, nhưng hiện nay phía bà L đã san lấp hố bom này. Năm 2014, xã giải quyết tranh chấp đó nhưng không có lập biên bản gì. Từ đó đến nay gia đình ông H, bà B1 sử dụng ổn định cho đến năm 2020, vợ chồng anh N1, chị L1 trồng rừng được khoảng 6 tháng thì phát sinh tranh chấp cho đến bây giờ.

Nay ông B, bà L yêu cầu trả lại diện tích lấn chiếm là 4595,5m² tại thửa đất số 223 tờ bản đồ số 3 (bản đồ địa chính), vùng H, xã Q, thì ông H, bà B1, anh N1, chị L1 không nhất trí, vì từ trước đến nay gia đình vẫn sử dụng ổn định theo ranh giới đã được chia.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, bà Trần Thị Hải L2 thống nhất như lời trình bày của bị đơn và cho rằng bị đơn sử dụng đất đúng hiện trạng nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; Các Điều 35, 39, 147, 227, 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Điều 244 BLTTDS. Các Điều 163, 164 Bộ luật Dân sự 2015; Các Điều 10, 11, 50, 105, 107 Luật Đất đai năm 2003; Các Điều 100, 166 và Điều 203 Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B.

  1. Buộc ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 phải trả lại cho bà Nguyễn Thị L và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B diện tích 4595,5m² tại thửa đất số 223 tờ bản đồ số 5 tại vùng H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 221 của ông Nguyễn Bỉnh H dài 242,97m; Phía Nam giáp thửa 223 của ông B bà L dài 235,35m; Phía Đông giáp thửa 223 của ông B bà L dài 21,78m; phía Tây giáp thửa 224 của ông H2 dài 16,92m.

  1. Buộc ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 phải thu hoạch số cây tràm trồng từ tháng 5/2024 trên diện tích đất 4595,5m² để trả lại đất cho bà Nguyễn Thị L và người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông B.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện bồi thường cây bị chặt của nguyên đơn.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/9/2024, bị đơn ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự có mặt tại phiên tòa, những người vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc đã có ủy quyền nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1, thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q cho thấy, nguồn gốc hai thửa đất của ông Nguyễn Ngọc B và thửa đất của ông Nguyễn Bình H3 được Nhà nước giao đất rừng theo các tổ trồng rừng quản lý sử dụng và đã được cấp lâm bạ xanh năm 1995 cho các tổ trồng rừng, sau đó do không quản lý được nên các tổ

đã tự chia vùng đất cho các hộ gia đình sản xuất, khi cắm mốc chia rừng đều có chứng kiến của UBND xã. Trên cơ sở đó thì thửa đất của ông Nguyễn Bỉnh H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 444247 ngày 09/9/2013. Còn thửa đất 223 tờ bản đồ số 3 của ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị L chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng trong biên bản xác định ranh giới mốc giới ngày 25/3/2013; Biên bản xét duyệt hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/03/2007; trích lục bản đồ địa chính đều ghi tên chủ sử dụng ông Nguyễn Ngọc B. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị L là chủ sử dụng của thửa đất 223 tờ bản đồ số 3 tại vùng H, xã Q, huyện Q là có căn cứ.

[2.2] Quá trình sử dụng đất, sau khi chia đất cho các hộ dân sử dụng thì thửa đất nhà ông B và nhà ông H giáp ranh nhau, theo lời khai của hai bên đương sự thấy rằng hai bên đã phát sinh tranh chấp về ranh giới mốc giới từ năm 2014, bị đơn khai đã được xã hòa giải và cắm mốc bằng nhưng cột mộc bê tông, nhưng qua kiểm tra hiện trạng hiện nay không có các cột bê tông, đồng thời bị đơn không xuất trình được các biên bản hòa giải về việc giải quyết trên. Tại biên bản hòa giải ngày 18/6/2020 anh Nguyễn Bỉnh N1 cũng thừa nhận sử dụng sang đất ông Nguyễn Ngọc B; do đó việc bị đơn trình bày trồng rừng sử dụng ổn định trên phần đất đã giao từ khi giao đến nay là không có căn cứ.

[2.3] Về xem xét hiện trạng: Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, hiện trạng sử dụng đất rừng của gia đình ông Nguyễn Bỉnh H và gia đình bà Nguyễn Thị L, căn cứ vào biên bản xác định ranh giới mốc giới ngày 25/11/2013, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Bỉnh H và trích lục bản đồ địa chính thấy rằng khi giao đất và đến khi có chủ trương làm lại để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã có bản đồ địa chính đo tọa độ đầy đủ. Theo đó, thửa 223 tờ bản đồ số 3 tại vùng H, xã Q, huyện Q, diện tích 29.721m² của ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị L, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 221 của ông Nguyễn Bỉnh H dài 275,29m; Phía nam giáp đất rừng của ông Đinh Văn H2 (vợ là bà Nguyễn Thị H4 dài 48,49m; phía đông giáp thửa 224 của ông Đinh Văn H2 dài 203,03m; Phía tây giáp đất lâm nghiệp UBND xã Q quản lý dài 205,61m. Thửa đất số 221 của ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 222 tờ bản đồ số 3 của Nguyễn Đình T8 dài 303,96m; phía nam giáp thửa đất số 221 tờ bản đồ số 3 của ông Nguyễn Ngọc B dài 275,29m và thửa 224 của ông Đinh Văn H2 dài 23m; Phía Đông giáp thửa đất 198 của ông Phạm Văn T7 dài 45,86m; Phía tây giáp thửa 220 và 253 dài 60,13m (Tọa độ các vị trí được xác định theo bản đồ kỷ thuật số khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà B1). Căn cứ vào kết quả đo đạc theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và đối chiếu tọa độ của bản đồ địa chính để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Bỉnh H, cho thấy phần hiện trạng ông Nguyễn Bỉnh H sử dụng đã lấn

sang phần diện tích đất của ông Nguyễn Ngọc B 4595,5m², cụ thể: Phía Bắc giáp đất ông H dài 242,97m (các cạnh 167,97m + 75m); Phía Nam giáp thửa 223 của ông B dài 235,35m (các cạnh 165,52m + 69,83m); phía Tây giáp thửa 224 của ông H2 dài 16,92m; Phía Đông giáp thửa 223 của ông B dài 21,78m.

[2.4] Đồng thời, xem xét số liệu diện tích được cấp, gia đình ông Nguyễn Bỉnh H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 11.667m², tuy nhiên thực tế sử dụng là 11.991,3m². Đối với gia đình ông Nguyễn Ngọc B được sử dụng theo các giấy tờ được giao là 29.721m², nhưng thực tế sử dụng theo bản đồ hiện trạng là 19.900,2m². Hơn nữa phần phía Tây của thửa đất nhà ông Nguyễn Bỉnh H được cấp là 48,89m nhưng thực tế sử dụng phần phía tây này là 64,29m. Do đó có thể thấy phần hiện trạng sử dụng thay đổi về cả hình thể và diện tích. Như vậy căn cứ bản đồ địa chính đang có hiệu lực pháp luật phần diện tích đất tranh chấp là 4595,5m² thửa số 223 tờ bản đồ số 5 tại vùng H, xã Q, huyện Q thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị L. Cho nên cấp sơ thẩm chấp nhận nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Không chấp nhận nội dung kháng cáo của Bị đơn.

[2.5] Về tài sản trên đất: Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/5/2023 thì trên phần đất tranh chấp bị đơn có trồng cây tràm 3 năm tuổi, đường kính trung bình 5cm, mật độ canh tác 1875 cây/ ha, định giá 44.000.000 đồng/ha đối với cây trồng trên đất. Tuy nhiên, đến tháng 5/2024 thì bị đơn đã thu hoạch toàn bộ cây trên đất và trồng cây tràm mới. Việc bị đơn trồng cây trên đất trong thời gian các bên đương sự đang tranh chấp là không đúng quy định pháp luật. Do đó, bản án sơ thẩm buộc ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 thu hoạch cây để trả lại diện tích đất 4.595,5m² cho bà L và các đồng thừa kế của ông B là có căn cứ.

[3] Về án phí: ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1 là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1, anh Nguyễn Bỉnh N1, chị Phạm Thị L1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số

32/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

  1. Về án phí:
  • Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Bỉnh H, bà Lê Thị B1.
  • Anh Nguyễn Bỉnh N1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005816 ngày 17/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Chị Phạm Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005827 ngày 17/10/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS h.Quỳnh Lưu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thu Từ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Quang Trung




Nguyễn Đức Anh




Nguyễn Thị Thu Từ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 19/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger