|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/DS-PT
Ngày 18/3/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng và bà Trần Thị Hồng.
Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 07/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 2 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Minh H, sinh năm 1978, địa chỉ: Số E đường Đ, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1969, địa chỉ: Số A đường B, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Bà Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1977, địa chỉ: Hẻm A đường T, tổ D, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Bà Lê Thị Thu H2, sinh năm 1975, địa chỉ: Số A đường L, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Mạnh T, sinh năm 1978, địa chỉ: Số A đường V, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H; các bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H trình bày:
Bà Bùi Thị Minh H và bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 có quen biết nhau và bà H đã cho vay tiền nhiều lần để đầu tư làm ăn. Ngày 29/01/2022, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 và bà H viết giấy mượn số tiền 2.150.000.000 đồng. Số tiền này là gồm tiền gốc của nhiều khoản vay trước đây mà bà L, bà H1 và bà H2 vay để đầu tư mua đất.
Đến thời hạn, bà H đòi tiền nhiều lần thì bà L, bà H1 và bà H2 mới trả được 1.725.000.000 đồng. Cụ thể:
- - Ngày 27/5/2022: Trả 725.000.000 đồng qua ngân hàng, trừ tiền giấy tờ sang bìa đỏ, nộp thuế 25.000.000 đồng. Số tiền trả nợ là 700.000.000 đồng.
- - Ngày 31/5/2022: Trả 1.000.000.000 đồng qua ngân hàng.
Số tiền còn lại bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 không trả và kéo dài việc trả nợ. Vì vậy bà H yêu cầu bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 phải trả số tiền mượn còn nợ và tiền lãi theo cam kết.
Khi vay mượn hai bên thỏa thuận có tính lãi mức lãi 1.500 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Từ khi mượn tiền đến nay bà L, bà H1 và bà H2 chưa trả lãi cho bà H theo thỏa thuận. Vì vậy, bà H yêu cầu trả lãi theo quy định pháp luật, bà H tạm tính mức lãi theo quy định 20%/năm, cụ thể:
- - Tiền gốc 2.150.000.000 đồng. Thời hạn tính lãi từ ngày 29/01/2022 đến ngày 27/5/2022 tạm tính là 3 tháng 28 ngày (Quy ra 118 ngày).
- 2.150.000.000 đồng x 20%/năm x 118 ngày = 139.013.699 đồng.
- - Ngày 28/5/2022 trả được 700.000.000 đồng. Tiền gốc còn 1.450.000.000 đồng. Thời hạn tính lãi từ ngày 28/5/2022 đến ngày 31/5/2022.
- 1.450.000.000 đồng x 20%/năm x 4 ngày = 3.178.082 đồng.
- - Ngày 31/5/2022 trả 1.000.000.000 đồng. Tiền gốc còn 450.000.000 đồng.
Thời hạn tính lãi từ ngày 01/6/2022 đến ngày 30/8/2024 tạm tính là 10 tháng 9 ngày (Quy ra 819 ngày).
450.000.000 đồng x 20%/năm x 819 ngày = 101.095.890 đồng.
Tại phiên tòa, bà H thừa nhận tài liệu do bà L và bà H1 nộp trực tiếp tại phiên tòa trong đó có chữ viết của bà H tại nội dung phía trên góc phải tài liệu: “262.800” và dòng thứ 9 từ trên xuống ghi: “15/10 37.200.000 (Đ)”; tài liệu là bản chụp hình ảnh (bút lục số 27) là chữ viết của bà H. Tuy nhiên, về nội dung các tài liệu này thì bà H không nhớ là nội dung gì. Trên thực tế giữa bà L, bà H1 và H2 vay tiền của bà H rất nhiều lần. Do đó, bà H không đồng ý với ý kiến của bà L và bà H1 trình bày tại phiên tòa. Về tiền lãi, các bên thỏa thuận từ 1.500 đồng đến 2.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày tùy vào thời gian trả nợ sớm hay muộn. Trên thực tế bà L, bà H1 và bà H2 chưa trả tiền lãi của các khoản vay.
Căn cứ Giấy mượn tiền ngày 29/01/2023 của bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 ký tên xác nhận số nợ và bà H xác định
đây là giấy chốt các khoản nợ gốc mà bà L, bà H1 và H2 vay trước đây. Về giấy nợ gốc các khoản vay này thì bà H không còn lưu giữ nên không cung cấp được.
Nhận thấy sự việc nêu trên đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nay bà H khởi kiện và yêu cầu Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 phải liên đới trả số tiền nợ gốc là 450.000.000 đồng, tiền lãi phát sinh đến ngày giải quyết vụ án 30/8/2024, mức lãi suất là 20%/năm là 243.164.384 đồng; tổng tiền gốc và lãi là 693.164.384 đồng.
1.2. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 trình bày:
Ngày 12/7/2021, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 có mượn của bà H số tiền là 1.500.000.000 đồng để mua lô đất tại xã H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Sau khi nhận chuyển nhượng lô đất này, bà L, bà H3 và bà H2 sẽ dùng thửa đất này làm tài sản thế chấp vay tiền ngân hàng để trả lại tiền cho bà H. Tuy nhiên, khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hồ sơ vay không được duyệt nên không có tiền trả lại cho bà H như thỏa thuận.
Do liên tục bị bà H đòi nợ nên bà H1 đã sử dụng tài sản cá nhân của mình là nhà đang thế chấp tại Ngân hàng A đảm bảo khoản vay 900.000.000 đồng và chuyển sang vay tại ngân hàng H4 với số tiền vay là 1.300.000.000 đồng và sử dụng số tiền chênh lệch là 400.000.000 đồng để trả nợ vào ngày 15/10/2021. Việc trả tiền này bà H1 có viết giấy ghi nợ đề ngày 15/10/2021 (trong đó đã xác định số tiền nợ đến ngày 15/10/2021 là 859.600.000 đồng, trả nợ 262.800.000 đồng còn lại 596.800.000 đồng (bút lục 23-24).
Đến ngày 29/01/2022, bà H yêu cầu bà L, bà H1 và bà H2 chốt lại số tiền nợ gốc và lãi 2.150.000.000 đồng và ép ký vào giấy này.
Từ ngày 27 đến ngày 31/5/2022, bà L, bà H1 và bà H2 chuyển nhượng được đất nên đã trả tiền cho bà H tổng cộng 1.725.000.000 đồng như sau:
- - Ngày 27/5/2022, trả 725.000.000 đồng
- Ngày 31/5/2022, bán lô đất thứ hai 800.000.000 đồng nhưng bà H không giao giấy chứng nhận để thực hiện việc công chứng hợp đồng nên phải đưa thêm cho bà H 200.000.000 đồng nên tổng tiền đưa là 1.000.000.000 đồng.
Tiền lãi bà H tính là 2000 đồng/1.000.000 đồng/ngày.
Từ ngày 15/10/2021 đến ngày 31/5/2022 tổng số tiền đã trả là 2.125.000.000 đồng nên không còn nợ tiền bà H.
Tại phiên tòa, bà L và bà H1 trình bày:
Ngày 12/7/2021 vay của bà H số tiền 1.500.000.000 đồng để vay tiền mua lô đất. Đến ngày 28/7/2021 vay bà H số tiền 50.000.000 đồng và ngày 13/8/2021 vay bà H số tiền 100.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc đã vay là 1.650.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2000 đồng/1.000.000 đồng/ngày.
Sau đó, số tiền nợ gốc 1.650.000.000 đồng được tách làm 02 khoản vay cho bà H1 và bà H2. Về số tiền gốc từng người thì không xác định được.
Ngày 15/10/2021, bà H1 vay tiền tại ngân hàng H4 và trực tiếp trả cho bà
H tại ngân hàng là 300.000.000 đồng nhưng không viết giấy biên nhận. Ngày 27/5/2022, trả 725.000.000 đồng và ngày 31/5/2022 trả 1.000.000.000 đồng theo giấy biên nhận có chữ ký của bà H ký xác nhận ngày 31/5/2022 (nộp bản gốc tại phiên tòa).
Căn cứ vào tài liệu nộp trực tiếp tại phiên tòa là bản ghi tính tiền lãi và gốc giữa bà H với bà H2 trong đó có chữ viết của bà H tại nội dung phía trên góc phải tài liệu: “ 262.800” và dòng thứ 9 từ trên xuống ghi: “15/10 37.200.000 (Đ)”. Theo nội dung tính toán trong tài liệu này thì thể hiện khoản 300.000.000 đồng ngày 15/10/2021 trả cho bà H tại ngân hàng H4. Tài liệu này số tiền nợ tính đến ngày 21/9/2021 là 859.600.000 đồng, sau khi tính toán thì số tiền nợ đến ngày 15/10/2021 còn lại là 596.800.000 đồng.
Căn cứ vào tài liệu là bản chụp hình ảnh về việc tính toán nợ gốc và lãi của bà H với bà L, bà H1 và bà H2 ngày 29/01/2022 (bút lục số 27), bà H đã chốt nợ số tiền 596.800.000 đồng là khoản nợ của bà H1 tính đến ngày 15/10/2021 nêu trên và số tiền nợ của bà H2 tính đến ngày 21/9/2021 là 1.185.000.000 đồng, tổng cộng là 1.781.800.000 đồng; hai khoản này được tính lãi đến ngày 29/01/2022 tương ứng tiền lãi là 107.543.000 đồng và 261.885.000 đồng. Vì vậy, cộng các khoản nợ gốc và lãi này: 596.800.000 đồng + 1.185.000.000 đồng + 107.543.000 đồng + 261.885.000 đồng = 2.151.228.000 đồng và bà H đã ép bà L, bà H1 và bà H2 ký vào giấy mượn tiền ngày 29/01/2022. Lãi suất của khoản vay là 2000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Hiện đã trả được tổng cộng 2.050.000.000 đồng tiền gốc. Vì vậy, bà L và bà H1 không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
2. Giải quyết của tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 288, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Minh H.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Bùi Thị Minh H số tiền 591.431.407 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc 425.000.000 đồng và tiền lãi 166.431.407 đồng.
Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Bùi Thị Minh H số tiền 101.732.997 đồng, gồm tiền nợ gốc theo yêu cầu 25.000.000 đồng và tiền lãi theo yêu cầu 76.732.977 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 phải chịu 27.657.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Bùi Thị Minh H phải chịu 5.086.649 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 15.266.180 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001377 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà H được nhận lại số tiền 10.179.500 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo, kháng nghị:
- - Ngày 06/9/2024, nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H có đơn kháng cáo về việc đề nghị xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu tính lãi suất theo mức 1,66%/tháng.
- - Ngày 12 tháng 9 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 có đơn kháng cáo về việc đề nghị xem xét sửa bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Minh H và buộc bà H phải trả lại số tiền đã trả vượt quá là 247.433.691 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo buộc bà H trả lại số tiền đã trả vượt quá là 90.303.799₫.
- - Bản án không bị kháng nghị.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
- - Nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu tính lãi suất theo mức 1,66%/tháng.
- - Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1, bà Lê Thị Thu H2 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ và giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị sửa bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Minh H và buộc bà H phải trả lại số tiền đã trả vượt quá là
247.433.691 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo buộc bà H trả lại số tiền đã trả vượt quá là 90.303.799₫.
- - Các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa các đương sự xác định không có tranh chấp về lãi suất do đó đề nghị áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự xác định mức lãi suất được tính bằng 20%/năm để tính khoản tiền lãi mà người vay phải trả.
Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” về phần lãi suất.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H về việc yêu cầu chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu tính lãi suất theo mức 1,66%/tháng Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H giao nộp tài liệu “Giấy mượn tiền” đề ngày 29/01/2022 có chữ ký và ghi tên của người mượn tiền là bà Phạm Thị Thu H1, Lê Thị Thu H2, Nguyễn Thị Kim L với số tiền 2.150.000.000đ thời hạn trả trong vòng 30 ngày (BL77). Bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm
Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 cũng thừa nhận đã viết và ký vào giấy mượn tiền này.
Nguyên đơn là bà Bùi Thị Minh H cũng thừa nhận đã ký vào giấy xác nhận đề ngày 31/5/2022, xác nhận rằng bà L, bà H1 và bà H2 đã trả 1.725.000.000 đồng (BL83). Do đó, có đủ căn cứ xác định 01 giấy mượn tiền và 01 giấy xác nhận nêu trên là thật.
Tuy nhiên bị đơn bà L, bà H1 và bà H2 đều cho rằng đây là số tiền có nợ lãi đã được cộng dồn thành nợ gốc và việc ký vào giấy mượn tiền này là do bị ép buộc. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh mình bị ép buộc khi ký vào giấy mượn tiền. Nguyên đơn cũng không đồng ý với ý kiến của bị đơn. Do đó, cấp sơ thẩm xác định “giấy mượn tiền” này là hợp đồng vay tài sản và làm căn cứ giải quyết yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn cũng như xem xét ý kiến của phía bị đơn là có căn cứ.
Bị đơn bà L và bà H1 trình bày đã trả 300.000.000 đồng ngày 15/10/2021 vay tại Ngân hàng H4. Nguyên đơn không thừa nhận, bị đơn cung cấp 01 giấy tính toán (BL 82) chỉ thể hiện các con số được tính toán, không thể hiện rõ giấy này được viết vào năm nào, không thể hiện rõ các nội dung về việc trả tiền cho khoản vay nào, trả cho ai, ai là người trả. Do đó, tài liệu, chứng cứ này không được xem là chứng cứ của vụ án nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến này. Trong trường hợp các đương sự chứng minh được thì có quyền yêu cầu giải quyết trong một vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.
Do đó, có căn cứ xác định bà L, bà H1 và bà H2 đã trả tiền nợ của khoản vay 2.150.000.000 đồng như sau:
- - Ngày 27/5/2022, trả 725.000.000 đồng, nợ gốc còn 1.425.000.000 đồng.
- - Ngày 31/5/2022, trả 1.000.000.000 đồng, nợ gốc còn 425.000.000 đồng.
[2.2] Đối với lãi suất:
Tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự quy định về lãi suất như sau:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Mặc dù tại giấy vay tiền ghi ngày 29/01/2022 không thể hiện lãi suất vay nhưng các bên đều thừa nhận có thỏa thuận tiền lãi. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xác định lãi suất là
1.500 đồng đến 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng với lãi suất từ 0,15%/ngày đến 0,2%/ngày), còn các bị đơn đều cho rằng lãi suất là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng với lãi suất là 0,2%/ngày). Như vậy, giữa các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, có căn cứ xác định lãi suất là 0,2%/ngày, (tương ứng với 73%/năm, vượt quá lãi suất giới hạn 20%/năm nên mức lãi suất vượt quá (tương ứng với 53%) không có hiệu lực.
Tòa án cấp sơ thẩm nhận định giữa các bên có tranh chấp về lãi suất và xác định lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự và bằng 10%/năm là chưa đảm bảo. Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị Minh H.
- - Từ ngày 29/01/2022 đến ngày ngày 27/5/2022 (119 ngày), tiền nợ gốc là 2.150.000.000 đồng, lãi suất 20%/năm, tiền lãi là 140.191.781 đồng.
- - Từ ngày 28/5/2022 đến ngày ngày 31/5/2022 (4 ngày), tiền nợ gốc là 1.425.000.000 đồng, lãi suất 20%/năm, tiền lãi là 3.123.288 đồng.
- - Từ ngày 01/6/2022 đến ngày 30/8/2024 (822 ngày), tiền nợ gốc là 425.000.000 đồng, lãi suất 20%/năm, tiền lãi là 191.424.658 đồng.
Như vậy, tổng tiền lãi mà bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 334.739.727 đồng (so với đơn kháng cáo yêu cầu tính mức lãi 1.66%/tháng tương đương 19,92%/năm = 333.400.768đ chênh lệch 1.338.959₫).
Theo yêu cầu khởi kiện ban đầu và trong quá trình giải quyết vụ kiện. Số tiền lãi do nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả là 243.164.384 đồng tiền lãi. Do vậy, số tiền lãi 334.739.727đ được tính nêu trên là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Do đó, cần chấp nhận số tiền lãi mà nguyên đơn yêu cầu 243.164.384₫ là phù hợp.
[3] Xét kháng cáo của các bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 về việc yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Minh H và buộc bà H phải trả lại số tiền đã trả vượt quá là 90.303.799 đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Để chứng minh cho việc đã trả lãi vượt quá bà L, H1, H2 đã nộp tài liệu chứng cứ là 01 giấy tính toán (BL27) thể hiện các con số được tính toán với số tiền bị đơn cho rằng: Tiền lãi của số tiền 596.800.000 nợ từ ngày 15/10/2021 đến ngày 29/01/2022 (là 106 ngày) = 107.543.000 đồng; Tiền lãi của số tiền 1.185.000.000 đồng nợ từ ngày 21/9/2021 đến ngày 29/01/2022 (là 131 ngày) là 261.885.000 đồng.
Tuy nhiên, nguyên đơn không thừa nhận khoản trả lãi này và cho rằng khoản lãi này trả trong một khoản vay khác không liên quan đền việc giải quyết vụ án. Giấy tính toán tại BL 27 này không thể hiện rõ giấy này được viết vào năm nào, không thể hiện rõ các nội dung về việc trả lãi cho khoản vay nào, trả cho ai, ai là người trả, ai là người nhận. Do đó, tài liệu, chứng cứ này không được xem là chứng cứ của vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận. Trong trường hợp các đương sự chứng minh được thì có quyền yêu cầu giải quyết trong một vụ kiện khác theo quy định.
Từ các lẽ trên, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo các bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2.
[4] Về nghĩa vụ chịu án phí: Vì bản án sơ thẩm bị sửa nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 288, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2.
3. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa bà Bùi Thị Minh H với bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2.
Tuyên xử:
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Minh H.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Bùi Thị Minh H số tiền 668.164.384₫ (sáu trăm sáu mươi tám triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn, ba trăm tám mươi bốn đồng), trong đó tiền nợ gốc 425.000.000 đồng và tiền lãi 243.164.384 đồng.
Không chấp nhận phần yêu cầu của bà Bùi Thị Minh H về việc yêu cầu trả số tiền nợ gốc 25.000.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí:
4.1. Về án phí sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 phải liên đới chịu 30.726.575 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Bùi Thị Minh H phải chịu 1.250.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 15.266.180
đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0001377 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà H được nhận lại số tiền 14.016.180 đồng.
4.2. Về án phí phúc thẩm:
Trả lại cho bà Bùi Thị Minh H số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000444 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2 mỗi người 300.000 đồng theo các Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 000449, 000450 và 000451 đều cùng ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 19/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn bà Nguyễn Thị Kim L, bà Phạm Thị Thu H1 và bà Lê Thị Thu H2. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Bùi Thị Minh H. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
