Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

________________

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________________________

Bản án số: 19/2025/DS-PT

Ngày 11-3-2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương
  • Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn và bà Đỗ Thị Hà
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:

Bà Trương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2024/TLPT-DS, ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 15/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 13/2025/QĐ-PT, ngày 21 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025 ngày 19/2/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39A ngày 28/2/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  • - Ông Phùng Văn C, sinh năm 1945
  • - Bà Đặng Thị L, sinh năm 1956

Đều có địa chỉ tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Phùng Văn C:

Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.

Bị đơn:

  • - Ông Phùng Văn Ồ, sinh năm 1955
  • - Bà Vũ Thị L1, sinh năm 1960

Đều có địa chỉ tại: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Người kháng cáo: Ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L.

Tại phiên tòa,ông C1, bà L, ông Ô, bà L1 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà H có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn, ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L thống nhất trình bày:

Tháng 09/1981, gia đình ông bà được UBND xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình cấp cho một mảnh đất có số thửa 388, tờ bản đồ số 21, diện tích 324,7m² tại khu bể lắng (nay là khu Đ) thuộc thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Khi đó ông Bùi Văn Q làm ruộng đất xã (hiện nay là cán bộ địa chính xã). Khi xã giao đất cho 12 hộ gia đình nhận đất cùng ngày, trong đó có gia đình ông bà, giao đất UBND xã đi chăng dây đóng cọc mốc cho từng nhà. UBND xã chỉ gọi đại diện hộ gia đình đến giao đất trực tiếp tại thực địa, không có văn bản, giấy tờ giao đất. Việc xã có ghi chú vào đâu về việc giao đất cho các hộ gia đình hay không thì ông bà không rõ. Về họ tên, tuổi, địa chỉ của những người nhận đất cùng ngày với gia đình bà cụ thể như sau: hộ ông Bùi Thành V, ông Bùi Văn Đ, bà Bùi Thị N, ông Vũ Đình Q1, bà Vũ Thị S, ông Bùi Văn T, bà Đinh Thị M, ông Bùi Xuân B, ông Phùng Văn C2 (đã chết), ông Bùi Xuân L2 (đã chết), ông Bùi Văn Q2 (đã chết). Đều trú tại địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Cuối năm 1983, ông Ồ không có đất sinh sống nên hỏi mượn đất ông bà, vì thương em nên ông bà cho gia đình ông Ồ mượn đất, không chuyển nhượng hay cho ông Ồ. Năm 1989, gia đình ông bà làm ăn thua lỗ nên chuyển đến sinh sống tại phường S, thị xã B, tỉnh Bắc Cạn đến đầu năm 1996 chuyển về sinh sống tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình nhưng ở tại địa điểm khác. Năm 1990, khi Nhà nước lập bản đồ địa chính thì gia đình ông bà không có mặt ở địa phương và do gia đình ông Ồ đang sử dụng thửa đất nên được ghi tên vào bản đồ và Sổ mục kê. Đến năm 2020, gia đình ông Ồ làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên thì gia đình ông bà mới biết và đã làm đơn gửi đến UBND xã B. Ông bà đề nghị Tòa án buộc ông Ồ và bà L1 phải trả lại cho ông bà toàn bộ diện tích 324,7m² đất tại thửa đất số 388, tờ bản đồ số 21 tại thôn Đ, xã B. Đối với các tài sản mà ông Ồ bà L1 đã xây dựng trên đất, ông bà sẽ thanh toán bằng tiền mặt tương đương với giá trị hiện nay của các tài sản trên đất.

Bị đơn ông Phùng Văn Ổ, bà Vũ Thị L1 đều trình bày:

Năm 1980, khi ông Ổ đi bộ đội về địa phương phục viên, do bố mẹ ông Ổ có đông con nên ông Ổ được UBND xã B ưu tiên cấp cho ông Ổ 01 thửa đất tại khu vực Đ, thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình, thực hiện theo chính sách dãn dân theo Quyết định 299 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc cấp đất cho các gia đình chưa có đất. Khi được cấp đất, thửa đất là đất trũng, không thể trồng cấy và xây dựng được. Vợ chồng ông bà phải vay thóc để mua đất từ các thuyền để san lấp đất có được hiện trạng như hiện nay. Tại thời điểm cấp đất, UBND xã B giao cho ông Ổ thửa đất có diện tích 309m². Khi cấp đất ông Bùi Văn Q là cán bộ địa chính xã B đưa sổ mục kê cho ông Ổ ký tên nhận đất, cùng đi giao đất có ông Nguyễn Đức R là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, thời điểm đó chỉ có ông bà đi cùng ông Q và ông R để nhận đất, ngoài ra không có ai khác đi cùng. Tại thời điểm cấp đất không có quyết định về việc giao đất của UBND xã B. Thời điểm hiện nay của ông Q và ông R đều đã chết.

Năm 1980 đến năm 1985, do trong quá trình cải tạo đất nên ông bà chỉ xếp gạch làm nhà ở tạm. Đến năm 1986, ông bà xây dựng nhà mái bằng kiên cố trên đất như hiện nay. Năm 1990, ông bà xây dựng các công trình phụ trên đất và tường bao quanh. Đến năm 2009, bà L1 lên Hà Nội trông cháu, năm 2011, ông Ổ lên Hà Nội nên ông bà có nhờ ông C trông nom nhà hộ. Đến đầu năm 2020 ông bà về nhà sinh sống, khi đó ông C không có ý kiến gì về nhà đất.

Về nghĩa vụ đóng thuế: Năm 1990, khi UBND xã tiến hành đo đạc lại đất thì diện tích đất là 315m². Kể từ đó đến năm 2014, ông bà nộp thuế nhà đất theo diện tích 315m². Đến năm 2015, do có chính sách miễn giảm thuế đất nên gia đình ông bà không phải nộp thuế đất nữa, sổ nộp thuế ông bà đã giao nộp bản sao cho Toà án.

Năm 2012, ông bà đều ở Hà Nội nên đã nhờ ông C ký thay Tờ khai nộp thuế đất, tờ khai cũng ghi rõ họ tên người nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp đề ngày 04/4/2012 là Phùng Văn Ổ, phần chữ ký bên dưới có chữ ký thay C, ông C chỉ là người ký thay tên ông Ổ chứ không phải người đứng tên sử dụng đất. Cùng năm 2012, Nhà nước tiến hành đo đạc VLAP, khi đó ông bà đều sinh sống ở Hà Nội. Ông M1 là Bí thư thôn Đ có gọi điện cho ông bà về ký tên vào bản đồ đất nhưng ông bà bận trông cháu không về việc nên đã nhờ ông C ký tên thay.

Quá trình ông bà sử dụng đất từ năm 1980 đến năm 2020 không có mâu thuẫn, tranh chấp gì với ai. Đến tháng 5/2020, khi ông bà làm thủ tục đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông C bà L làm đơn yêu cầu ông bà trả đất.Do ông C bà L làm đơn tranh chấp nên hiện này ông bà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thửa đất số 388, tờ bản đồ số 21 tại thôn Đ, xã B do UBND xã B giao cho ông Ổ khi về phục viên là thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông bà. Gia đình ông bà đã sử dụng ổn định từ năm 1980 đến nay, năm 1986 đã xây các công trình trên đất, không có tranh chấp gì với ai. Đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C bà L.

Tại biên bản lấy lời khai của những người làm chứng: ông Bùi Thành V, ông Bùi Văn Đ, bà Bùi Thị N, ông Vũ Đình Q1, bà Vũ Thị S, bà Đinh Thị M, ông Bùi Xuân B đều trình bày: khi cấp đất cho 12 hộ gia đình trong danh sách có tên ông Phùng Văn C.

Ông Bùi Văn T trình bày: khi nhận đất có 12 hộ gia đình, trong đó có hộ nhà ông và hộ ông Ổ, ông là người chứng kiến về việc ông Phùng Văn Ổ là người nhận đất cùng gia đình ông chứ không phải ông C.

Ông Phùng Văn Y là em trai ông C trình bày: Năm 1992 ông về địa phương thì ông C có nói với ông là được UBND xã B cấp đất ở thôn Đ, ông không chứng kiến việc ông C nhận đất, ông Ổ ở và xây dựng nhà trên đất từ năm 1986 và ở từ đó đến nay.

Tài liệu biên bản hoà giải của UBND xã B và biên bản xác minh tại UBND xã B thể hiện: Theo bản đồ 299 tờ bản đồ số 01 số thửa 20 ghi tên ông Phùng Ổ diện tích 309m²; bản đồ đo đạc giai đoạn năm 1990 tờ bản đồ 06, số thửa 3255 ghi tên ông Phùng V1 có diện tích 315m²; bản đồ VLAP đo đạc năm 2012 số thửa 288 tờ bản đồ 21, ghi tên ông Phùng Văn Ổ có diện tích 324,7m² địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Việc thực hiện nghĩa vụ đóng thế nhà đất là ông Phùng Văn Ổ thực hiện. Lý do bản đồ đo đạc năm 1990 thửa đất 3255, tờ bản đồ số 06 ghi tên ông Phùng V1 là sai sót chính tả khi vào số liệu quy chủ sử dụng đất ở địa phương, tại thời điểm đó không có ai tên là Phùng V1.

Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thể hiện: diện tích 322,8m²số thửa 288 tờ bản đồ 21, ghi tên ông Phùng Văn Ổ địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình có giá trị 106.222.050 đồng. Các tài sản khác gồm: nhà mái bằng 01 tầng diện tích 54,6m² xây dựng năm 1986, nhà phụ mái Brô xi măng 17,65m²xây dựng năm 1990, nhà vệ sinh 4m² xây dựng năm 1990, nhà tạm (khu chăn nuôi) 20,7m²xây dựng năm 1990, bể nước 2m³xây dựng năm 1990, sân láng xi măng 87,4m²xây dựng năm 1990, tường rậu xây dựng năm 1990 đã hết khấu hao về tài sản.

Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST, ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã quyết định: Căn cứ khoản 9 Điều 26,điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự2015; điểm d khoản 1 Điều 12 củaNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L về việc yêu cầu Toà án buộc ông Phùng Văn Ổ, bà Vũ Thị L1 trả lại diện tích 322,8m²số thửa 288 tờ bản đồ 21 tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
  2. Về án phí: Miễn án phí dân sự cho ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L không được chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện nên phải chịu 4.800.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. (đã chi trả xong)

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 28/10/2024 nguyên đơn ông C và L kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm với nội dung: Ông C bà L đề nghị buộc bị đơn Ổ, bà L1 trả lại diện tích 322,8m²số thửa 288 tờ bản đồ 21 tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Tại phiên toà nguyên đơn ông C và bà L thay đổi đề nghị ông Ồ và bà L1 trả lại cho ông bà 1/2 diện tích đất tại thửa số 288 tờ bản đồ số 21. Bị đơn ông Ổ bà L1 không nhất trí, hai bên không thỏa thuận được được việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của đương sự, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự để không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị: Những người làm chứng khẳng định có việc giao đất năm 1981 cho ông C, đề nghị xem xét về yêu cầu của nguyên đơn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong hạn luật định là hợp lệ, được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L, Hội đồng xét xử thấy: Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp: UBND xã B không xác định được thời gian giao đất thuộc khu Đ là khi nào. Ông C và ông Ổ đều trình bày ông được giao đất là người có công với cách mạng, gia đình đông con, không có đất ở và đều nộp đơn (ông C là thương binh, ông Ổ là bộ đội phục viên). Nguyên đơn ông C và những người làm chứng xác định được giao đất cuối năm 1981, bị đơn ông Ổ cho rằng thời gian ông được giao đất năm 1980 thì ông C có đất rồi nên không thuộc diện được giao đất theo chỉ thị 299.
  3. Về xác định ai là người thực hiện giao đất, đối tượng và diện được giao đất: Nguyên đơn, bị đơn và những người làm chứng đều khẳng định ông Q, ông R là người thay mặt UBND xã giao đất cho các hộ dân, những người được giao đất thuộc đối tượng gia đình đông người, diện chính sách, có công với cách mạng và cán bộ; khi giao đất không có giấy tờ (riêng bị đơn khai có ký sổ). UBND xã B ngoài ông Q và ông R thì không xác định được còn ai khác trong UBND thời kỳ đó tham gia, chứng kiến hoặc biết về nội dung giao đất này, tài liệu liên quan xã không còn lưu giữ.
  4. Tài liệu xác minh tại UBND xã B, biên bản hòa giải tại Ủy ban xã thể hiện: Theo bản đồ 299 tờ bản đồ số 01 số thửa 20 ghi tên ông Phùng Ổ diện tích 309m²; bản đồ đo đạc giai đoạn năm 1990 tờ bản đồ 06, số thửa 3255 ghi tên ông Phùng V1 có diện tích 315m²; bản đồ VLAP đo đạc năm 2012 số thửa 288 tờ bản đồ 21, ghi tên ông Phùng Văn Ổ có diện tích 324,7m² địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Việc thực hiện nghĩa vụ đóng thế nhà đất là ông Phùng Văn Ổ thực hiện. Lý do bản đồ đo đạc năm 1990 thửa đất 3255, tờ bản đồ số 06 ghi tên ông Phùng V1 là sai sót chính tả khi vào số liệu quy chủ sử dụng đất ở địa phương, tại thời điểm đó không có ai tên là Phùng V1.
  5. Xét thấy quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ tài liệu chứng minh về việc được UBND xã B cấp đất năm 1981 và các tài liệu chứng cứ do Toà án thu thập không có tài liệu nào thể hiện lưu trữ tại UBND xã B về ông Phùng Văn C có tên trong sổ mục kê và các bản đồ 299 từ năm 1981 tại thôn Đ đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện. Lời khai của người làm chứng trong vụ án trình bày: khi nhận đất trong danh sách được cấp đất cho 12 hộ gia đình có tên ông Phùng Văn C, không chứng kiến về việc ông C được giao nhận đất, do đó không có cơ sở để chứng minh về việc ông C được UBND xã B giao đất năm 1981. Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do UBND xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình cung cấp và lời khai của người làm chứng ông Bùi Văn T trình bày: Khi nhận đất có 12 hộ gia đình trong đó có hộ nhà ông và hộ ông Ổ, ông T là người chứng kiến việc ông Ổ là người nhận đất chứ không phải ông C; chứng cứ do bị đơn cung cấp có căn cứ chứng minh có tên ông Phùng Văn Ổ được ghi chép theo sổ mục kê và bản đồ 299 tờ bản đồ số 01 số thửa 20 ghi tên ông Phùng Ổ diện tích 309m²; bản đồ đo đạc giai đoạn năm 1990 tờ bản đồ 06, số thửa 3255 ghi tên ông Phùng V1 có diện tích 315m²;theo đo đạc bản đồ VLAP đo đạc năm 2012 tờ bản đồ 21, số thửa 288 diện tích 324,7m²ghi tên ông Phùng Văn Ổ địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình. Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2012 họ tên người nộp thuế Phùng Văn Ổ, phần người nộp thuế hoặc đại diện hợp pháp của người nộp thuế có chữ ký thay C; Sổ theo dõi và thanh toán nộp thuế các năm giữa hộ gia đình, xóm trưởng và Uỷ ban nhân xã các năm 2001 đến năm 2010; phiếu thu thuế nhà đất năm 2008; Biên lai thu thuế nhà đất năm 2006, 2008 và các sổ thu thuế sản vụ chiêm hàng năm để chứng minh quyền sử dụng đất từ năm 1981 đến năm 2020. Mặt khác, ông Ổ, bà L1 sử dụng ổn định 322,8m² đất tại số thửa 288 tờ bản đồ 21 thuộc thôn Đ từ trước ngày 15/10/1993, xây dựng nhà năm 1986 sử dụng cho đến năm 2020 không ai có ý kiến tranh chấp đối với diện tích đất này.

Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L buộc bị đơn ông Phùng Văn Ổ và bà Vũ Thị L1 phải trả lại diện tích 322,8m² đất hiện ông Ổ bà L1 đang quản lý sử dụng tại địa chỉ thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình là có căn cứ.

  1. Về án phí: ông C và bà Lụa là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L giữ nguyên bản án dân sự số 17/2024/DS - ST, ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, cụ thể:
  2. Căn cứ khoản 9 Điều 26,điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự2015; điểm d khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    1. Không chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L về việc yêu cầu Toà án buộc ông Phùng Văn Ổ, bà Vũ Thị L1 trả lại diện tích 322,8m²số thửa 288 tờ bản đồ 21 tại thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
    2. Về án phí: Miễn án phí dân sự cho ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L.
    3. Về chi phí tố tụng: Ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L không được chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện nên phải chịu 4.800.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. (đã chi trả xong)
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Phùng Văn C và bà Đặng Thị L.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 11/3/2025.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Thái Bình;
  • -TA, THADS huyện Kiến Xương;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HSVA;
  • -Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 19/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm tranh chấp quyền sử dụng đất số 19/2025
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger