|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-PT. Ngày: 07-8-2024. V/v: "Ly hôn, tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải
Ông Lê Văn Duy
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Vân-Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 27/2022/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về: “Ly hôn, chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân & gia đình sơ thẩm số: 838/2023/HNGĐ-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 27/2023/QĐ-PT ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Thanh H, sinh năm 1982; có mặt
Địa chỉ: 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Hiện trú tại: D V, thành phố Q, tỉnh Bình Định
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T- Luật sư hoạt động tại Văn phòng luật sư T và Cộng sự, thuộc đoàn luật sư tỉnh B; địa chỉ 108 đường N, thành phố Q; có mặt.
Bị đơn : Anh Mai Xuân P, sinh năm 1977; có mặt
Địa chỉ: 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Mai Q, sinh năm 1938 (chết ngày 01.12.2021)
- Anh Mai Xuân L, sinh năm 1963 (vắng mặt)
- Chị Mai Thị Tố N, sinh năm 1966
- Chị Mai Thị Kiều O, sinh năm 1967
- Chị Mai Thị Thu H1, sinh năm 1969
- Chị Mai Thị Tuyết N1, sinh năm 1971
- Chị Mai Thị Kiều S, sinh năm 1980
- Chị Mai Thị Tố L1, sinh năm 1973
- Bà Lương Thị X, sinh năm 1944
- Anh Mai Xuân P, sinh năm 1977; có mặt.
- Anh Mang Ngọc T1, sinh năm 1990; vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)
- Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố Q, Bình Định
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q:
Địa chỉ : số nhà H, SE9, 6AB Lon Don
Địa chỉ : 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : A N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : 2 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : 590/1/42 N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Chị Mai Thị Tố L1 là diện theo ủy quyền của người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị N, chị O, chị H1, chị N1, chị S, bà X cũng là đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q; có mặt.
Địa chỉ: 3 T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
Địa chỉ : A N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Địa chỉ : A T, thành phố Q, tỉnh Bình Định
Người đại diện: Bà Nguyễn Thị Hải Y - Chủ tịch UB
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Duy T2- Cán bộ Tư pháp; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: chị Trần Võ Bảo N2- sinh năm: 1995
Địa chỉ: Tổ E, khu V, phường Đ, thành phố Q
Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Cao Thị Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2020 và các lời khai tiếp theo và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Chị Cao Thị Thanh H và anh Mai Xuân P ly hôn theo Bản án số 30/2020/HNGĐ-PT ngày 25/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, theo đó phần tài sản chung chưa giải quyết. Nay, chị H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn là nhà đất tại số C đường T và nhà đất số A đường T; cụ thể:
- Nguồn gốc nhà đất số C đường T, thuộc thửa số 72, tờ bản đồ số 34: Năm 2009 ông Mai Q và Bà Lương Thị X (là cha mẹ ruột của anh P) cho miệng vợ chồng chị H và anh P 85m² tại thửa số 72, tờ bản đồ số 34; năm 2009 anh P, chị H xây nhà ở như hiện nay, năm 2012 cho anh P đứng tên khai thuế 141m². Khoảng năm 2013 ông Q xây 1 ngôi nhà trên diện tích 140m² kề nhà anh P chị H đã xây dựng năm 2009 và nói sau này chết cho vợ chồng nên chị H không ngăn cản, không có ý kiến. Ngày 10/3/2015 gia đình ông Q, bà X thống nhất lập giấy thỏa thuận trong gia đình với nội dung: thửa số 72, tờ bản đồ số 34, diện tích 341m² thỏa thuận cho anh Mai Xuân L, chị Đỗ Thị Ngọc T3 200m², nên diện tích còn lại 141m² không ghi trong giấy thỏa thuận vì đã cho miệng chị H và anh P trước đó; giấy này chị Mai Thị Tuyết N1 (con ông Q, bà X) viết thành 9 bản, tất cả mọi người có mặt, kể cả anh L, chị T3 từ nước ngoài về đồng ký tên; anh P ký thay chị H, ông Q ký thay bà X vì bà X không biết chữ. Bản gốc giấy này chị H cất trong nhà nhưng hiện nay chị H không còn ở nên không có cung cấp được bản gốc cho Tòa. Ngày 20/5/2015 ông Q xác nhận cho chị H và anh P 141m², giấy này do chị H đánh máy sẵn, ông Q lăn tay, khi đó chỉ có chị H và ông Q, chị H và anh P không ký.
- Nguồn gốc nhà đất tại A đường T, thuộc thửa số 85, tờ bản đồ số 40: Ngày 09/10/2007 ông Q, bà X cho đất anh P chị H, giấy này do ông Q đọc, anh P viết. Theo giấy thỏa thuận ngày 25/01/2019 giữa anh Đoàn Tấn P1 với anh Mai Xuân P trong đó anh P1 nhận 65,2m², anh P nhận 62m²; năm 2019 anh P chị H cất nhà quán như hiện nay.
Cho nên, nhà đất số 302/21 và nhà đất số A đường T là tài sản chung của anh P chị H trong thời kỳ hôn nhân. Nay yêu cầu chia, cụ thể:
- Giao nhà đất số C đường T cho anh P quản lý sử dụng, anh P thanh toán lại cho chị H ½ giá trị nhà đất theo giá của Hội đồng định giá tài sản.
- Chị H nhận nhà đất tại A đường T, thanh toán lại cho anh P ½ giá trị nhà đất theo giá của Hội đồng định giá tài sản.
Trong thời kỳ hôn nhân chị H và anh P không có nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng. Ngoài ra, chị H không yêu cầu gì khác.
Tại bản khai và các lời khai tiếp theo tại phiên tòa bị đơn anh Mai Xuân P trình bày: Anh và chị H đã ly hôn theo bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, tại bản án phần tài sản chung không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Nguồn gốc nhà đất số C đường T, thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34: Năm 2009 ông Q, bà X nói miệng cho mượn 72m² (4,5 x 16) để anh và chị H cất nhà ở, anh và chị H đã xây nhà như hiện nay, năm 2012 ông Q, bà X nhờ anh đứng tên kê khai thuế 141m² và nộp thuế từ năm 2012 cho đến nay. Khoảng năm 2013 ông Q cất 1 ngôi nhà trên diện tích 140m² kề nhà anh và chị H xây năm 2009, đất là của ông Q, nên anh không ý kiến. Giấy thỏa thuận trong gia đình lập ngày 10/3/2015 anh không biết vì: theo giấy này bà X không biết chữ nên chữ ký bà X không xác thực; vợ chồng anh L và chị T3 không có tham dự vì ở nước ngoài từ năm 2002; giấy này anh không có tham dự nên không biết. Giấy cho đất vào ngày 20/5/2015 hoàn toàn anh không biết vì: đất cha mẹ anh chỉ cho ở nhờ bằng miệng, ông Q lăn tay là không đúng vì ông biết chữ; mẹ anh là bà X không có tên; bản thân anh và chị H được cho mà không biết không ký tên, đề nghị Tòa xem xét.
- Nguồn gốc nhà quán số A đường T, thuộc thửa số 85, tờ bản đồ số 40, diện tích 200,9m² có nguồn gốc của gia tộc để lại cho ông Mai Q và bà Lương Thị X thụ hưởng. Giấy cho đất ngày 9/10/2007 do anh viết, thời điểm viết vào năm 2007 để hợp thức hóa việc anh thay mặt cha (ông Q) đứng ra giải quyết tranh chấp với ông Đoàn T4. Năm 2017 anh P1 thay mặt ông T4, anh thay mặt ông Q giải quyết tranh chấp, đến năm 2019 hai bên thỏa thuận xong và lập giấy thỏa thuận ngày 25/01/2019, trong đó anh P1 nhận 65,2m², anh nhận 62m²; đến năm 2019 anh đứng tên khai thuế 62m² nhưng chưa nộp thuế, năm 2019 anh mượn đất cha mẹ để cất quán kinh doanh như hiện nay. Cho nên:
- Đối với nhà và đất tại số C đường T: anh xin nhận nhà, đồng ý thanh toán lại cho chị H ½ giá trị nhà theo giá của Hội đồng định giá. Về đất là của cha mẹ cho ở nhờ, nên không phải là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, nên không đồng ý chia theo yêu cầu chị H.
- Đối với nhà và đất tại 179 đường T: Đất là của cha mẹ anh cho cất quán, anh đã trả lại cho cha mẹ vào tháng 7/2020 nên không phải là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, không đồng ý chia. Nhà thống nhất là tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đồng ý với ý kiến chị L1 giao cho cha mẹ và thối lại cho anh và chị H mỗi người ½ giá trị, không đồng ý giao nhà và đất theo yêu cầu chị H.
Tại bản khai và các lời khai tiếp theo tại phiên tòa diện theo ủy quyền của người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị N, chị O, chị H1, chị N1, chị S, bà X, cũng là đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q chị Mai Thị Tố L1 trình bày:
- Nguồn gốc nhà đất đất 302/21 T là của ông bà để lại, thửa số 72, tờ bản đồ số 34, tổng diện tích 341m²; cha mẹ chị là ông Mai Q và bà Lương Thị X có cho H và P mượn cất nhà ở năm 2009, việc cho mượn chỉ nói miệng, diện tích cất đủ 1 ngôi nhà, khoảng hơn 70m². Quá trình sử dụng có nhờ P đứng tên đóng thuế đất 140m² năm 2012. Đến năm 2013 cha mẹ chị (ông Q và bà X) có cất nhà trên diện tích còn lại, vì là đất của cha mẹ không ai có quyền ngăn cản và thực tế cũng không ai ngăn cản. Giấy thỏa thuận trong gia đình ngày 10/3/2015 khi lập giấy có mặt gồm: Mai Thị Tuyết N1 và chị (L1), giấy này chị N1 viết 9 bản, ngoài ra không có mặt ai, sau khi lập xong đưa mọi người ký, lý do: vì để giữ đất nhà từ đường bên cạnh cũng như cho chị H và anh P an tâm lo làm ăn, cho anh L an tâm vì anh là trai trưởng trong gia đình nên chị và chị N1 tự ý lập giấy này. Hiện nay chị không có lưu giữ. Còn giấy ngày 20/5/2015 chị không biết, trên giấy chỉ có ông Q lăn tay đề nghị Tòa xem xét vì cha chị biết chữ, mẹ là bà X không có tên cũng không có lăn tay, nên giấy này không hợp pháp. Thừa nhận nhà là do vợ chồng P chị H xây dựng.
- Nguồn gốc nhà đất 179 T là của ông bà để lại, thửa số 85, tờ bản đồ số 40, diện tích 200,9m²; anh P và chị H được cha mẹ chị cho mượn đất chỉ nói miệng để cất nhà quán làm ăn. Giấy cho đất ngày 9/10/2007 có tên bà X nhưng không có lăn tay là không đúng vì mẹ chị không biết chữ; đất trong thời điểm tranh chấp với ông Đoàn T4 đến năm 2019 mới xong, cả gia đình chị không ai biết. Chị thừa nhận nhà quán là do anh P và chị H cất. Cho nên:
- Đối với nhà và đất tại 3 T: Đất là của cha mẹ chị, nay anh P và Chị H ly hôn, chị thay mặt cha mẹ lấy lại đất; phần nhà do anh P và chị H tạo lập nên đồng ý theo ý kiến anh P.
- Đối với nhà quán và đất tại A T: Đất là của cha mẹ chị, hiện nay đã lấy lại cho anh M Ngọc T1 thuê từ tháng 7/2020 cho đến nay. Nay anh P và Chị H ly hôn, chị thay mặt cha mẹ lấy lại đất; riêng phần nhà thống nhất giá theo định giá ngày 12/8/2021 là 56.312.000đ, nhà quán do anh P và chị H tạo lập, chị xin nhận nhà quán thối lại tiền cho anh P, chị H.
- Đối yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn về tiền thuê nhà 179 T chị thay mặt cha mẹ không đồng ý.
- Cha chị ông Mai Q chết ngày ngày 01.12.2021 chị thay mặt những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng không tranh chấp trong vụ án này.
Tại bản khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Mang Ngọc T1 trình bày: Anh gọi ông Mai Q bằng ông ngoại; ngày 01/7/2020 anh có ký hợp đồng thuê đất với ông Q, nội dung: thuê đất tại A T, kinh doanh quán nhậu, thời gian thuê 12 tháng tính từ 1/7/2020, giá thuê 4.000.000đ/tháng, thành tiền 48.000.000đ, thực tế anh tiếp tục thuê cho đến nay.
Nay xảy ra tranh chấp là việc của gia đình ông Q, đồng ý rời khỏi nhà 179 T khi nếu có phán quyết của tòa, việc thuê nhà anh và gia đình ông Q tự giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại bản khai đại diện theo ủy quyền người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Duy T2 trình bày: Theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất 85, tờ bản đồ số 40, diện tích 200,9m², đo đạt ngày 18/12/2000 thuộc tổ 33, KV4, phường Q, mục đích sử dụng đất: Hg/b (đất hoang bằng), tên chủ sử dụng: UBND phường Q; vì tại thời điểm đo đạt đất đang tranh chấp, không biết tên chủ sử dụng nên cán bộ đo đạt ghi tên UBND phường Q; hiện nay anh Mai Xuân P đang sử dụng một phần diện tích 62,8m² theo sơ đồ đo đạt ngày 12/4/2021; đất này hiện nay chưa có giấy chứng nhận QSDĐ. Thửa đất 85, tờ bản đồ số 40, đo đạt ngày 18/12/2000 UBND phường Q không quản lý, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại bản khai anh Mai Xuân L trình bày: Anh là con ruột của ông Mai Q và bà Lương Thị X. Trên giấy thỏa thuận trong gia đình ngày 10/3/2015 chữ ký L dưới dòng Mai Xuân L không phải là chữ ký của anh, còn ai ký anh không biết, anh chưa thấy giấy này. Anh là chồng của chị Đỗ Thị Ngọc T3, trên giấy thỏa thuận trong gia đình ngày 10/3/2015 chữ ký T3 dưới dòng Đỗ Thị Ngọc T3 không phải là chữ ký của vợ anh, còn ai ký anh không biết.
Nay cha anh ông Mai Q chết 01/12/2021 mọi quyền lợi và nghĩa vụ thống nhất như ý kiến của chị Mai Thị Tố L1, không khai báo gì thêm.
Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số: 838/2022/HNGĐ-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 209, 210, 212, 213, 218, 219 Bộ luật dân sự .
Áp dụng khoản 5,7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu đơn khởi kiện của chị Cao Thị Thanh H về việc chia tài sản sau khi ly hôn với anh Mai Xuân P.
- Anh Mai Xuân P được quyền quản lý sử dụng nhà tại 302/21 đường T theo biên bản đo đạt ngày 12.4.2021 sau khi có nghĩa vụ thối lại chị Cao Thị Thanh H 99.272.000đ.
- Bà Cao Thị X1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q được quyền quản lý sử dụng nhà tại 179 đường T theo biên bản đo đạt ngày 12.4.2021 sau khi có nghĩa vụ thối lại chị Cao Thị Thanh H 28.156.000₫ và anh Mai Xuân P 28.156.000₫
- Anh Mai Xuân P có nghĩa vụ giao trả lại đất tại Thửa đất số 85, tờ bản đồ số 40, diện tích 62,8m² và thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34, diện tích 77m² cho bà Cao Thị X1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q theo biên bản đo đạt ngày 12.4.2021.
- Bác một phần yêu cầu của chị H về chia giá trị đất tại thửa đất số 85, tờ bản đồ số 40; xin nhận thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34, xin nhận nhà A đường T và tiền thuê nhà 179 T vì không phù hợp theo quy định pháp luật.
- Về án phí DS-ST:
Chị Cao Thị Thanh H được nhận khoản tiền 99.272.000₫ do anh Mai Xuân P giao.
Chị Cao Thị Thanh H và anh Mai Xuân P mỗi người được nhận khoản tiền 28.156.000₫ do bà Cao Thị X1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q giao.
Bà Cao Thị X1 và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Mai Q nhận lại diện tích 2 thửa đất nói trên, có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan chức năng làm thủ tục cấp giấy CNQSDĐ diện tích 2 thửa đất nói trên và có trách nhiệm làm việc với các cơ quan chức năng đối với diện tích vi phạm chỉ giới xây dựng theo đúng quy định pháp luật.
Chị H phải chịu án phí DSST: 114.415.000đ nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây 7.500.000₫ theo biên lai thu tiền số 0003079 ngày 19.11.2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn nên còn phải nộp 106.915.000₫
Anh P phải chịu án phí DSST: 6.371.000₫.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền chi phí định giá, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 28/7/2022, nguyên đơn chị Cao Thị Thanh H kháng cáo với nội dung:
- Yêu cầu công nhận nhà và đất số 302/21 và nhà đất số A đường T là tài sản chung của chị và anh Mai Xuân P trong thời ký hôn nhân. Giao nhà và đất tại 3 đường T cho anh P quản lý sử dụng, anh P thanh toán lại cho chị ½ giá trị nhà đất. Chị nhận quản lý sử dụng nhà đất số A đường T thanh toán lại cho anh P ½ giá trị nhà đất.
- Yêu cầu ông Mai Q, bà Lương Thị X trả cho chị ½ số tiền cho thuê nhà số 179 đường T, với gái thuê 4.000.000 đồng/tháng, thời gian cho thuê từ ngày 01/7/2020 đến nay.
Ngày 24/4/2023 đại diện hợp pháp nguyên đơn có đơn đề nghị trưng cầu giám định dấu vân tay của ông Mai Q trên “Giấy cho đất” ngày 20/5/2015; ngày 15/6/2013 Tòa án tỉnh Bình Định nhận được Công văn số 286/KTHS về việc từ chối giám định của Phòng K Công an tỉnh B.
Ngày 28/12/2023 nguyên đơn chị Cao Thị Thanh H có đơn yêu cầu định giá tài sản tài sản đang tranh chấp là nhà đất số 302/21 và nhà đất số A đường T, tự thuê đơn vị chức năng định giá tài sản; ngày 10/5/2024 Tòa án nhận được Chứng thư thẩm định giá nhà đất số 302/21 và nhà đất số A đường T của Công ty TNHH Tư vấn và Thẩm định giá Cityland thành phố H.
Ngày 13/3/2023 Tòa án tỉnh Bình Định nhận được “Đơn yêu cầu” tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án của chị Trần Võ Bảo N2. Lý do: Nhà đất số A đường T bà Cao Thị Thanh H đã chuyển nhượng cho chị và bà H đã nhận tiền đặt cọc của chị 700.000.000 đồng.
Ngày 02/7/2024 Tòa án tỉnh Bình Định tiếp tục nhận “Đơn yêu cầu” của chị Trần Võ Bảo N2, đề nghị HĐXX: Được tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đưa nội dung bà Cao Thị Thanh H còn nợ chị 700.000.000 đồng vào bản án và đề nghị phong tỏa tài sản của bà H để có nguồn tiền trả nợ cho chị sau này.
Kèm theo “Đơn yêu cầu” là Căn cước công dân của chị N2, Biên bản cam kết và nhận tiền chuyển giao nhà(đất) ngày 08/12/2021; Biên bản cam kết và xác nhận ngày 21/12/2022; Hợp đồng tín dụng số: 01/2024/1460795/HĐTD ngày 01/4/2024 (tất cả photo)
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn chị Cao Thị Thanh H thay đổi nội dung kháng cáo, cụ thể:
- Nhà đất số 302/21 tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34 đường T, phường Q, thành phố Q có nguồn gốc đất của ông Mai Q và bà Lương Thị X (cha mẹ anh P) cho miệng 141m², năm 2009 chị và anh P xây nhà ở và để sân trống như hiện nay (nhà 57,3m², sân 19,7m²). Năm 2013, ông Q xây một ngôi nhà trên diện tích 141m² anh P đã đăng ký nộp thuế, sát nhà chị và anh P đã xây năm 2009 và nói sau này chết cho vợ chồng chị nên chị không phản đối. Ngày 10/3/2015 gia đình anh phước họp theo “Giấy thỏa thuận trong gia đình” có nội dung: cho anh Mai Xuân L 200m², nên còn lại 141m² (Thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34 có diện tích 341m²) đã cho vợ chồng chị trước đó nên không ghi nội dung cho đất anh P và chị trong giấy này. Ngày 20/5/2015 ông Mai Q cho vợ chồng chị 141m² theo “Giấy cho đất”, giấy này do chị đánh máy ông Q điểm chỉ dưới mục người viết.
- Nhà đất số A đường T tại thửa đất số 85, tờ bản đồ số 40 có nguồn gốc ông Mai Q cho vợ chồng chị theo “Giấy giao đất” ngày 09/10/2007, năm 2019 vợ chồng chị xây nhà quán kinh doanh.
- Cho nên, yêu cầu công nhận nhà và đất số 302/21 và nhà đất số A đường T là tài sản chung của chị và anh P trong thời kỳ hôn nhân. Chia tài sản chung: chị nhận quản lý sử dụng nhà và đất số 302/21 T, chị thanh toán lại cho anh P ½ giá trị nhà đất theo Chứng thư thẩm định giá; giao nhà đất số A T cho anh P quản lý sử dụng, anh P thanh toán lại cho chị ½ giá trị theo giá Chứng thư thẩm định giá.
- Rút kháng cáo yêu cầu ông Mai Q bà Lương Thị X trả cho chị ½ số tiền cho thuê nhà số A T, với giá thuê 4.000.000 đồng/tháng, thời gian thuê từ tháng 7/2020 đến nay. Chi phí thẩm định giá tài sản đã yêu cầu, tự nguyện chịu, không yêu cầu tòa giải quyết.
Còn về số tiền nhận đặt cọc của chị Trần Võ Bảo N2: Năm 2020 (sau khi ly hôn) chị vay mượn tiền của chị Trần Võ Bảo N2. Do không có khả năng trả nợ nên có hứa chuyển nhượng nhà đất số A T, số tiền nợ vay của chị N2 hơn 520.000.000 đồng chuyển thành nhận tiền cọc chuyển nhượng nhà đất số A T. Đây là nợ riêng giữa chị và chị N2, không liên quan đến anh P.
Anh Mai Xuân P trình bày: Nhà đất số 302/21 tại thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34 là cha mẹ cho mượn đất, năm 2009 vợ chồng xây nhà như hiện nay. Còn nhà quán số A đường T: Năm 2007 gia đình anh đang có tranh chấp đất với ông Đoàn T4, nên Giấy giao đất năm 2007 là để anh thay mặt cha (ông Mai Q) đứng ra giải quyết tranh chấp với ông T4. Việc giải quyết đất này đến năm 2019 mới xong theo giấy thỏa thuận giữa anh và ông Đoàn Tấn P1 (con ông Đoàn T4). Năm 2019 cha mẹ cho mượn đất, tạo điều kiện cho chị H làm nơi mở quán, nên vợ chồng mượn tường 3 bên, dựng sắt lợp tôn cũ, không xây gì thêm, chi phí là của anh và chị H, sau này cha anh đứng tên cho anh Mang Ngọc T1 thuê. Cho nên, thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34 có nhà 302/21 đường T và thửa đất số 85, tờ bản đồ số 40 có nhà số A đường T là đất của cha mẹ, tiền xây dựng nhà 302/21 và cất quán số A đường T là tài sản chung của vợ chồng, nên đồng ý thanh toán lại cho chị H ½ giá trị nhà, không đồng ý chia đất theo yêu câu chị H.
Chị Trần Võ Bảo N2 trình bày: Ngày 08/12/2021 bà Cao Thị Thanh H lừa chuyển nhượng cho chị căn nhà A đường T, thành phố Q (nhà này không phải của chị H), tin tưởng nên chị đã đặt tiền cọc cho bà H 700.000.000 đồng. Do sợ tố cáo nên ngày 21/12/2022 bà H cam kết chuyển nhượng cho chị nhà đất số A đường T với số tiền 3.500.000.000 đồng, chị được 2.000.000.000 đồng. Sau khi vụ việc ở Tòa xong sẽ giao cho bà H tiền còn lại 1.500.000.000 đồng. Do quá tin tưởng bà H, chị và cha mẹ đã thế chấp tài sản để vay ngân hàng giao tiền cọc cho bà H. Vì vậy, đề nghị HĐXX: được tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án, đưa nội dung chị Cao Thị Thanh H còn nợ chị 700.000.000 đồng vào bản án và đề nghị phong tỏa tài sản của chị H để có nguồn tiền trả nợ cho chị sau này.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nhà số 302/21 T, diện tích 77m² xây dựng năm 2009 và nhà quán số A đường T cất 2019, khi xây dựng ông Q bà X không phản đối. Cho nên, đây là tài sản chung của chị H anh P trong thời kỳ hôn nhân. Áp dụng án lệ số: 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị H; sửa bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng án lệ số: 03/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xác định nhà đất số C đường T thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34 và nhà quán số A đường T là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh P chị H. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 289 của Bộ luật tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của chị H; Giao nhà đất số: 302/21 đường T cho anh P quản lý sử dụng, anh P có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị H ½ giá trị nhà đất số 302/21 và ½ giá trị nhà quán số A đường T theo giá thẩm định giá tài sản; sửa bản án sơ thẩm và đình chỉ xét xử đối với phần kháng cáo yêu cầu ông Mai Q bà Lương Thị X trả ½ số tiền cho thuê nhà số A đường T của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Theo kháng cáo của nguyên đơn, HĐXX thấy rằng: Ngày 19/11/2020 Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý giải quyết tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn, giữa nguyên đơn chị Cao Thị Thanh H. bị đơn anh Mai Xuân P, tài sản tranh chấp yêu cầu chia là nhà đất số 302/21 thuộc thửa đất số 72, tờ bản đồ số 34 và nhà đất số 179 thuộc thửa đất số 85, tờ bản đồ số 40, đường T, thành phố Q.
Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án nêu trên, ngày 08/12/2021 chị H chuyển nhượng nhà đất số A đường T và đã nhận tiền đặt cọc 700.000.000 đồng của chị Trần Võ Bảo N2. Mặc dù, chị H và chị N2 đều không đề nghị nhưng việc giải quyết tài sản là nhà đất số A đường T là có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của chị N2. Cho nên, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn phải đưa chị N2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án được quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại cấp phúc thẩm:
Chị Cao Thị Thanh H kháng cáo về tài sản và cách chia tài sản chung là nhà đất 302/21 và nhà đất số A đường T, thành phố Q nêu trên. Trong khi chị Trần Võ Bảo N2 có “Đơn yêu cầu” được tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Lý do chị N2 cho rằng: Chị H lừa dối chuyển nhượng nhà đất số A đường T và đã nhận tiền đặt cọc của chị, đồng thời đề nghị đưa nội dung chị H còn nợ chị 700.000.000 đồng vào bản án và phong tỏa tài sản của chị H để có nguồn tiền trả nợ cho chị sau này. Xét thấy: Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa chị N2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của chị N2, có liên quan đến việc xét nội dung kháng cáo của chị H mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Do phát sinh tình tiết mới ở cấp phúc thẩm, nên việc hủy bản án sơ thẩm là khách quan, không phải chủ quan của cấp sơ thẩm. Bản án bị hủy do vi phạm tố tụng, nên cấp phúc thẩm không xem xét nội dung kháng cáo.
[3] Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng, chi H đã nộp và đã chi phí xong. Chị H, anh P mỗi người phải chịu ½ chi phí là 1.000.000 đồng. Cho nên, anh P có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị Cao Thị Thanh H 1.000.000 đồng. Đối với chi phí thẩm định giá tài sản chị H tự nguyện chịu, HĐXX không xem xét.
[4] Về án phí: Do hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Cao Thị Thanh H là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 838/2022/HNST-ST ngày 19/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Về án phí:
- Án phí dân sự phúc thẩm: Chị Cao Thị Thanh H không phải chịu án phí. Trả lại cho chị Cao Thị Thanh H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004303 ngày 28/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Án phí dân sự sơ thẩm sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
- Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Anh Mai Xuân P có nghĩa vụ thanh toán lại cho chị Cao Thị Thanh H 1.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Chi phí thẩm định giá tài sản chị H tự nguyện chịu, HĐXX không xem xét.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiệp |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-PT ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, chia tài sản chung
