Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/KDTM-ST

Ngày: 11-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lâm Huỳnh Đệ

2. Ông Lý Thành Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 3/2023/TLST-KDTM ngày 13 tháng 02 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2024/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2024/QĐST-KDTM ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T1 (T2); địa chỉ: Tòa nhà T, số E phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; địa chỉ liên lạc: Số B đường P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, là nguyên đơn. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Anh T (Giấy ủy quyền số 18/2020/GUQ-TP B.HĐQT ngày 25/9/220; Giấy ủy quyền số 120/2023/GUQ-TPB.CMC ngày 01/3/2023) (có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ: Số G đường Â, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Vũ B, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, chức vụ: Giám đốc (vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Vũ B, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 23/12/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 24/12/2018, Ngân hàng TMCP T1 (sau đây gọi tắt là T2) ký Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 và Thỏa thuận chung về cung cấp và sử dụng tín dụng tại T2 với Công ty TNHH S (sau đây gọi là Công ty S). Nội dung Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018: Hạn mức tín dụng là 2.500.000.000 đồng; mục đích: bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh của công ty; thời hạn: 12 tháng.

Ngày 27/12/2018, T2K ước giải ngân và nhận nợ số 01/KUNN/24.12/494/TTKD 270 với Công ty S, cụ thể: Số tiền giải ngân là 1.803.500.000 đồng, mục đích: thanh toán theo hóa đơn, thời hạn: 05 tháng (kể từ ngày 28/12/2018 đến ngày 25/5/2019).

Ngày 21/01/2019, T2K ước giải ngân và nhận nợ số 02/2019/KUNN/21.01/494/TTKD 270 với Công ty S, cụ thể: Số tiền giải ngân là 125.400.000 đồng, mục đích: thanh toán theo hóa đơn, thời hạn: 05 tháng (kể từ ngày 22/01/2019 đến ngày 21/6/2019).

Ngày 28/3/2019, T2 ký với Công ty S Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH: Hình thức phát hành: thẻ tín dụng tín chấp; số tiền giải ngân là 100.000.000 đồng, chủ thẻ chính: Công ty S, người được ủy quyền sử dụng thẻ chính: Nguyễn Vũ B; lãi suất và các điều kiện khác: được quy định tại “Điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp”.

Ngày 24/12/2018, ông Nguyễn Vũ B đã ký và gửi cho T2 Cam kết trả nợ thay. Theo nội dung trong bản cam kết này thì trong trường hợp Công ty S vi phạm các quy định của các Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng thì ông B sẽ chịu trách nhiệm trả thay toàn bộ khoản nợ của Công ty S.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Khoản vay tín chấp không có tài sản bảo đảm.

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Công ty S đã không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi đúng cam kết, do đó T2 đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của Công ty S sang nợ quá hạn.

Trong quá trình giải quyết, T2 đã nhiều lần gọi điện thoại đôn đốc, trực tiếp xuống làm việc, gửi văn bản yêu cầu trả nợ tới Công ty S, ông Nguyễn Vũ B yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết nhưng Công ty S và ông B không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho T2, đã vi phạm các văn bản thỏa thuận và hợp đồng đã ký với T2. Do đó, T2 khởi kiện Công ty S, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:

  1. Buộc Công ty S thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho T2 với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 22/12/2022) là 3.915.041.390 đồng, trong đó:
    • Dư nợ của Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018 là: Nợ gốc: 1.928.900.000 đồng, nợ lãi: 1.427.335.932 đồng, tổng dư nợ: 3.356.255.932 đồng.
    • Dư nợ thẻ VISA theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH ngày 28/3/2019 (tạm tính đến ngày 11/12/2022) là 558.785.458 đồng.

Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty TNHH S, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ B nhưng các đương sự không phản hồi ý kiến.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Anh T (có đơn xin vắng mặt) trước đó cung cấp bản tự khai, bằng tính lãi tạm tính đến ngày 11/7/2024, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:

  1. Buộc Công ty S thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho T2 với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 11/7/2024) là 4.511.851.971 đồng, trong đó:
    • Dư nợ của Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018 là: Nợ gốc: 1.928.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 22.597.816 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.001.568.697 đồng, tổng dư nợ: 3.953.066.513 đồng.
    • Dư nợ thẻ VISA theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH ngày 28/3/2019 là 558.785.458 đồng.
  2. Buộc Công ty S tiếp tục thanh toán tiền lãi, tiền phạt phát sinh theo lãi suất quá hạn, lãi phạt thỏa thuận tại các văn bản Thỏa thuận chung về cung cấp và sử dụng tín dụng tại T2, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức, K ước giải ngân và nhận nợ, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp đã ký với T2 kể từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  3. Buộc ông Nguyễn Vũ B có trách nhiệm trả nợ thay trong trường hợp Công ty S không thực hiện thanh toán nợ cho T2 theo các cam kết đã ký.
  4. Trong trường hợp Công ty S và ông Nguyễn Vũ B không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì T2 có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu của Công ty S và ông Nguyễn Vũ B để thu hồi nợ cho T2.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán cho khoản nợ của Công ty S tại T2. Nếu số tiền thu được từ bán/ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty S, ông Nguyễn Vũ B vẫn có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho T2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên trong Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thông báo, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo thời hạn giao Thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty S có nghĩa vụ thanh toán cho T2 số nợ: Đối với Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018 là: 3.953.066.513 đồng (trong đó, nợ gốc: 1.928.900.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 22.597.816 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.001.568.697 đồng); đối với thẻ VISA theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH ngày 28/3/2019 là 558.785.458 đồng và tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 12/7/2024 cho đến khi Công ty S trả xong nợ cho Ngân hàng T2 theo quy định tại các thỏa thuận đã ký trong hợp đồng. Trường hợp Công ty S không thực hiện thanh toán nợ cho T2 theo các cam kết đã ký thì ông Nguyễn Vũ B có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty S theo nội dung tại Giấy cam kết trả nợ thay ngày 24/12/2018.
  • Không chấp nhận một phần yêu cầu: Trong trường hợp Công ty S và ông Nguyễn Vũ B không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì T2 có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu của Công ty S và ông Nguyễn Vũ B để thu hồi nợ cho T2.

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn chịu án phí trên số tiền nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn chịu án phí trên phần không được chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ngân hàng TMCP T1 (T2) khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với Công ty TNHH S. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có trụ sở tại Quận A nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 13 tháng 6 năm 2024 và lúc 083011 tháng 7 năm 2024; bị đơn Công ty S, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ B đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn Công ty S, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ B các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền gốc và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từ bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ, lãi của nguyên đơn:

Căn cứ Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018, K ước giải ngân và nhận nợ số 01/KUNN/24.12/494/TTKD 270 ngày 27/12/2018, K ước giải ngân và nhận nợ số 02/2019/KUNN/21.01/494/TTKD 270 ngày 21/01/2019, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH ngày 28/3/2019 được ký kết giữa T2Công ty S, có cơ sở để xác định phía bị đơn đã đã nhận được số tiền vay như tài liệu nguyên đơn cung cấp. Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, được bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S chỉ thanh toán số tiền 79.378.705 đồng đối với nợ của Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức và 5.751.222 đồng của Thẻ tín dụng nên T2 đã chuyển khoản nợ của Công ty S sang nợ quá hạn. Phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc T2 khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả toàn bộ số nợ còn lại và tiền lãi là phù hợp với quy định tại Điều 95, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về thanh toán nợ của nguyên đơn, buộc Công ty B1 cho T2 số tiền còn nợ tính đến ngày 11/7/2024 là 4.511.851.971 đồng, trong đó:

  • Dư nợ của Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018 là: Nợ gốc: 1.928.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 22.597.816 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.001.568.697 đồng, tổng dư nợ: 3.953.066.513 đồng.
  • Dư nợ thẻ VISA theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH ngày 28/3/2019 là 558.785.458 đồng.

Ngoài ra, phía bị đơn còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại các văn bản Thỏa thuận chung về cung cấp và sử dụng tín dụng tại T2, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức, K ước giải ngân và nhận nợ, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp.

Đối với yêu cầu phía bị đơn phải trả tiền phạt phát sinh theo lãi phạt thỏa thuận tại các văn bản Thỏa thuận chung về cung cấp và sử dụng tín dụng tại T2, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức, K ước giải ngân và nhận nợ, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp của nguyên đơn, do yêu cầu này vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[3.2] Về yêu cầu ông Nguyễn Vũ B có trách nhiệm trả nợ thay trong trường hợp Công ty S không thực hiện thanh toán nợ cho T2 theo các cam kết đã ký:

Tại Cam kết trả nợ thay ngày 24/4/2018 của ông Nguyễn Vũ B ghi nhận: “Trong trường hợp Công ty TNHH S không thanh toán được nợ gốc và/hoặc nợ lãi Hợp đồng với bất kì lí do gì, chúng tôi chịu trách nhiệm thay cho Công ty TNHH S trả đầy đủ nợ gốc và/hoặc nợ lãi Hợp đồng theo đúng yêu cầu của Ngân hàng TMCP T1”. Đây là cam kết tự nguyện của ông Nguyễn Vũ B, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên yêu cầu buộc ông Nguyễn Vũ B có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty S của T2 là có cơ sở chấp nhận.

[3.3] Về yêu cầu xử lý đối với tài sản thuộc sở hữu của Công ty S và ông Nguyễn Vũ B của nguyên đơn:

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu cụ thể tài sản nào để Tòa án tiến hành thủ tục xác minh tài sản trên có đủ điều kiện pháp lý để xử lý hay không. Ngoài ra, quyền yêu cầu thi hành án của đương sự được thực hiện theo pháp luật về thi hành án dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[4] Về án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh, thương mại có giá ngạch đối với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền là 4.511.851.971 đồng của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; nguyên đơn chịu án phí kinh doanh, thương mại không giá ngạch trên phần không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 244; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 295, Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP T1 (T2) về việc:

    Buộc Công ty TNHH B1 cho Ngân hàng TMCP T1 (T2) khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 11/7/2024 là 4.511.851.971 (bốn tỷ, năm trăm mười một triệu, tám trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi mốt) đồng, trong đó:

    • - Dư nợ của Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức số 494/2018/HDTD/TTKD BTH/01 ngày 24/12/2018 là: Nợ gốc: 1.928.900.000 (một tỷ, chín trăm hai mươi tám triệu, chín trăm nghìn) đồng, nợ lãi trong hạn là 22.597.816 (hai mươi hai triệu, năm trăm chín mươi bảy nghìn, tám trăm mười sáu) đồng, nợ lãi quá hạn là 2.001.568.697 (hai tỷ, không trăm linh một triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm chín mươi bảy) đồng, tổng dư nợ: 3.953.066.513 (ba tỷ, chín trăm năm mươi ba triệu, không trăm sáu mươi sáu nghìn, năm trăm mười ba) đồng.
    • - Dư nợ thẻ VISA theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp số HĐ 02-03/VISA DN/TPB BTH ngày 28/3/2019 là 558.785.458 (năm trăm năm mươi tám triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn, bốn trăm năm mươi tám) đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH S còn phải trả tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất thỏa thuận tại các văn bản Thỏa thuận chung về cung cấp và sử dụng tín dụng tại T2, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức, K ước giải ngân và nhận nợ, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp.

    Buộc ông Nguyễn Vũ B có trách nhiệm trả nợ thay trong trường hợp Công ty TNHH S không thực hiện thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP T1 (T2) theo các cam kết đã ký.

  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP T1 (T2) về việc:

    Buộc Công ty TNHH S phải trả tiền phạt phát sinh theo lãi phạt thỏa thuận tại các văn bản Thỏa thuận chung về cung cấp và sử dụng tín dụng tại T2, Hợp đồng cấp tín dụng hạn mức, K ước giải ngân và nhận nợ, Giấy đăng ký kiêm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng doanh nghiệp của nguyên đơn kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất thỏa thuận

    Trong trường hợp Công ty TNHH S và ông Nguyễn Vũ B không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP T1 (T2) có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành xác minh, kê biên, phát mãi tài sản thuộc sở hữu của Công ty TNHH S và ông Nguyễn Vũ B để thu hồi nợ cho T2. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/ xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán cho khoản nợ của Công ty S tại Ngân hàng TMCP T1 (T2). Nếu số tiền thu được từ bán/ xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty TNHH S, ông Nguyễn Vũ B vẫn có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP T1 (T2).

  3. Về án phí:

    Công ty TNHH S phải chịu án phí kinh doanh, thương mại có giá ngạch là 112.511.852 (một trăm mười hai triệu, năm trăm mười một nghìn, tám trăm năm mươi hai) đồng.

    Ngân hàng TMCP T1 (T2) phải chịu án phí kinh doanh, thương mại không có giá ngạch là 3.000.000 (ba triệu) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 55.150.414 (năm mươi lăm triệu, một trăm năm mươi nghìn, bốn trăm mười bốn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0020787 ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. H lại số tiền 52.150.414 (năm mươi hai triệu, một trăm năm mươi nghìn, bốn trăm mười bốn) đồng cho Ngân hàng TMCP T1 (T2).

  4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/KDTM-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger