Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 10-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Quý

Bà Liễu Thị Kim Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Vi Xuân D, sinh ngày: 30/3/1990 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Vi Đức L - sinh năm 1959 (đã chết). Con bà: Nông Thị D1, sinh năm 1962. Vợ con: Chưa có. Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 16/11/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 07/3/2024 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07/3/2024, Vi Xuân D đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đi từ nhà ở thôn N, xã H, huyện B đến khu vực Trường P thuộc thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn mua 02 (hai) gói ma túy với một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 1.200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Vi Xuân D cất 02 gói ma túy vào túi áo ngực và đi nhờ xe mô tô một người đàn ông không quen biết về nhà. Khi về đến địa phận Thôn B, xã H, huyện B, D xuống xe đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an xã H phát hiện, bắt quả tang trong túi áo bên phải Vi Xuân D có 02 gói giấy, 01 gói giấy màu vàng, 01 gói giấy màu trắng, bên trong hai gói giấy có chứa chất bột màu trắng, dạng cục, Vi Xuân D khai nhận là ma túy. Tổ công tác Công an xã H đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật trên để xác minh làm rõ.

Khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Vi Xuân D không thu giữ được đồ vật, vật chứng gì liên quan đến hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Ngày 08/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 174/QĐ-CSĐT yêu cầu Phòng K, Công an tỉnh L giám định 02 gói chất bột màu trắng đã tạm giữ ngày 07/3/2024.

Tại bản kết luận số 379/KL-KTHS ngày 09/3/2024 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,422 gam (đã trừ bì).

Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Vi Xuân D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKS-BG ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vi Xuân D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Vi Xuân D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 07/3/2024.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) bơm kim tiêm loại 3cc ( cũ, đã qua sử dụng); 01(một) phong bì có chữ “Tang vật thu giữ trên người Vi Xuân D” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình con dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01(một) gói giấy đựng tổng cộng 0,385gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 02 (hai) vỏ gói giấy (cũ).

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Vi Xuân D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 07/3/2024, Vi Xuân D đến khu vực Trường P thuộc thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn mua ma túy. Khi về đến địa phận thôn Bản Chu, xã H, huyện B thì bị Tổ công tác Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Qua giám định số ma túy có khối lượng 0,422 gam, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Do đó hành vi của bị cáo Vi Xuân D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật tuy nhiên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn cho xã hội, làm ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước; ma tuý cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm hình sự khác. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[5] Về nhân thân: Ngày 06/8/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Từ những nhận định, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, kinh tế phụ thuộc gia đình, tàng trữ với mục đích để sử dụng. Vì vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bơm kim tiêm loại 3cc (cũ, đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì có chữ “Tang vật thu giữ trên người Vi Xuân D” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình con dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01(một) gói giấy đựng tổng cộng 0,385 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 02 (hai) vỏ gói giấy (cũ).

[10] Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đề nghị miễn án phí.

[11] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[12] Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

[13] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Vi Xuân D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Vi Xuân D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (ngày 07/3/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bơm kim tiêm loại 3cc (cũ, đã qua sử dụng); 01 (một) phong bì có chữ “Tang vật thu giữ trên người Vi Xuân D” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và các hình con dấu của Phòng K tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,385 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và 02 (hai) vỏ gói giấy (cũ).
  4. (Vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/6/2024).

  5. Về án phí: Bị cáo Vi Xuân D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 07/3/2024, Vi Xuân D đến khu vực Trường P thuộc thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn mua ma túy. Khi về đến địa phận thôn Bản Chu, xã H, huyện B thì bị Tổ công tác Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Qua giám định số ma túy có khối lượng 0,422 gam, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger