TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HSPT Ngày: 06-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Lệ Thu và bà Nguyễn Thị Thương Huyền
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLPT- HS ngày 13 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thanh S do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
* Bị cáo kháng cáo: Trần Thanh S; sinh ngày: 01/8/1989; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Q (đã chết) và bà Ngô Thị M; Vợ: Nguyễn Thị H (đã ly hôn); Con: 03 đứa (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024 được thay thế áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến nội dung kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mạng xã hội facebook nên ngày 27/12/2023 Trần Thanh S, sinh năm 1989, trú tại thôn H, xã H, huyện H sử dụng tài khoản cá nhân có tên “Tran Sang” liên hệ với một người không quen biết có tên tài khoản “Pháo hoa” để đặt mua 06 hộp pháo có nguồn gốc xuất xứ nước ngoài, trong đó có 02 hộp pháo loại 36 ống phóng với giá 1.200.000 đồng/hộp và 04 hộp pháo loại 49 ống phóng với giá 1.300.000 đồng/hộp, hai bên thống nhất về thời gian và địa điểm giao nhận hàng. Khoảng 23 giờ cùng ngày S mượn xe mô tô Wave biển kiểm soát 38B1-303.08 từ chị Trương Thị H1, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã H, huyện H (xe của anh trai chị H1 là Trương Văn D) rồi điều khiển đến khu vực gần cửa hàng X, trên tuyến đường H thuộc xã H, huyện H gặp một người đàn ông lái xe Container lấy 01 túi ni lông màu đen bên trong chứa 06 hộp pháo như đã đặt trước rồi trả số tiền 7.400.000 đồng cho người này. Sau khi mua được pháo, S đưa về cất giấu tại khu vực gần nhà của mình nhằm mục đích bán kiếm lời.
Vào khoảng 19 giờ ngày 31/12/2023 S đem bán cho anh Mai Công N, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã L, huyện H 02 hộp pháo hoa loại 49 ống phóng với giá 1.700.000 đồng/hộp. Sau khi mua pháo của S, anh N biết là hàng cấm nên đã tự nguyện đến Công an huyện H giao nộp, đồng thời tố giác hành vi buôn bán hàng cấm của Trần Thanh S. Sau khi biết được tình hình sự việc, Trần Thanh S đã đến Công an xã H đầu thú, khai nhận về hành vi phạm tội của mình đồng thời tự nguyện giao nộp 04 hộp pháo còn lại.
Tại bản kết luận giám định số 120/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 02 khối hình hộp có cùng kích thước (10x17,5x17,5)cm, bên ngoài mỗi khối hình hộp có in hoa văn nhiều màu sắc và các chữ viết của nước ngoài, có dòng chữ “MADE IN CHINA”, bên trong mỗi khối hình hộp có 49 ống giấy hình trụ liên kết với nhau thành một khối (ký hiệu M) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 3,72kg; 04 khối hình hộp có cùng kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài mỗi khối hình hộp có in hoa văn nhiều màu sắc và các chữ viết của nước ngoài và có ký hiệu C0833, bên trong mỗi khối hình hộp có 36 ống giấy hình trụ liên kết với nhau (ký hiệu M1) gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 5,4kg.
Tại bản án sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Trần Thanh S 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, nhưng bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ 09 ngày (từ ngày 01/01/2024 đến ngày 10/01/2024).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/02/2024 bị cáo Trần Thanh S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S. Sửa Bản án sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 27/12/2023, Trần Thanh S đã có hành vi mua 06 hộp pháo có tổng khối lượng 9,12kg với giá 7.400.000 đồng của một người không quen biết về nhằm mục đích bán kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ ngày 31/12/2023, S bán 02 hộp pháo cho Mai Công N với giá 1.700.000 đồng/hộp, còn lại 04 hộp pháo S cất giấu tại khu vực gần nhà mình. Sau khi biết anh N đã giao nộp pháo cho cơ quan Công an huyện H thì Trần Thanh S đã đến Công an xã H đầu thú và tự nguyện giao nộp 04 hộp pháo còn lại. Do đó, hành vi của bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2.2]. Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm đến chế độ quản lý về vật liệu nổ của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, đe dọa đến sức khỏe và tính mạng của con người. Vì vậy, cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo mức án 14 tháng tù là phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp chứng cứ, tài liệu mới có bà nội là Lê Thị L là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì, có đơn xác nhận của chính quyền địa phương về việc gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo đang phải nuôi mẹ già và hai con nhỏ sau khi vợ chồng ly hôn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Trần Thanh S là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cải biện pháp chấp hành án, cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện để bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương nơi bị cáo cư trú, nhằm thể hiện sự khoan hồng và tính nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thanh S. Sửa Bản án sơ thẩm số 07/2024/HS-ST, ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, cải biện pháp chấp hành án cho bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thanh S 14 (mười bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 28 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Thanh S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Nếu người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự
- Về án phí: Bị cáo Trần Thanh S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Lam |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trương Thị Lệ Thu Nguyễn Thị T Huyền | Bùi Văn L1 |
Bản án số 19/2024/HSPT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về hình sự - buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 19/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh S phạm tội Buôn bán hàng cấm
