Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN THẠNH

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày: 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Vĩnh Lâm

Bà Trần Thị Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/HSST ngày 21 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Vũ Mi N; Sinh ngày: 12/5/2005; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1988 và bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm: 1987; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/7/2023, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 122/QĐ-XPVPHC ngày 12/7/2023 về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo đóng phạt vào ngày 11/12/2023; Nhân thân: Ngày 21/4/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 21/4/2023, bị cáo chưa chấp hành án phạt tù (Tại thời điểm phạm tội và xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự). Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 23/10/2023 cho đến ngày 26/12/2023 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Vũ Mi N: Luật sư Lê Văn L, sinh năm: 1993 – thuộc Văn phòng Luật sư Phạm Minh T1, Chi nhánh T2. Địa chỉ: số A, đường L, khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo).

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Vũ Mi N:

  • + Ông Nguyễn Vũ K1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm: 1987. Địa chỉ: ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Có mặt).

- Bị hại: Chị Lê Thị Yến N1, sinh ngày: 18/9/1991. Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Nơi ĐKHKTT: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Cao Nhan P, sinh ngày: 10/6/1987. Địa chỉ: ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/9/2023, Nguyễn Vũ Mi N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xám (không rõ biển số) của N đi từ nhà của N ở Ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang đến đoạn đường K thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An, để đi cuốn bẫy chuột do N đặt vào chiều ngày hôm trước. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, trong lúc đang cuốn bẫy chuột, N quan sát phát hiện nhà chị Lê Thị Yến N1 ở ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An khóa cửa ngoài, không có người trông giữ nên N nảy sinh ý định đột nhập vào nhà chị N1 để tìm tài sản trộm cắp. Sau đó, N đi vòng ra phía sau nhà quan sát, phát hiện khu vực nhà tắm phía trên có khoảng trống để leo vào, N từ vách nhà tắm lén lút đột nhập vào trong nhà chị N1. Sau khi vào trong nhà, N lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 130.000 đồng của chị N1, sau khi trộm cắp được tài sản N leo ra từ vách nhà tắm và điều khiển xe mô tô về nhà. Sau đó, N đem điện thoại di động vừa trộm cắp được bán tại cửa hàng Đ thuộc ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, do anh Cao Nhan P làm chủ với giá 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) và đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 10/9/2023, Công an xã T, huyện T, tỉnh Long An mời Nhô đến làm việc, Nhô tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐG ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá Tố tụng Hình sự huyện T. Kết luận: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 128GB, đã qua sử dụng, có giá trị 3.975.230đ (Ba triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm lẻ ba đồng).

Tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 12/2024/KLGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P1 kết luận:

  • - Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3-ICD10).
  • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (F60.3-ICD10).

Tại bản cáo trạng số: 16/CT-VKSTT, ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Mi N về tội “Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát có đính chính lại nội dung Cáo trạng có bị sai sót về phần lý lịch của Nguyễn Vũ Mi N, cụ thể đối với nội dung: “Ngày 21/4/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 21-4-2023, bị cáo chưa chấp hành án phạt tù, chưa được xóa án tích”, nay đính chính lại đây là về nhân thân của bị cáo và xác định bị cáo không có án tích do bị cáo bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” khi chưa đủ 18 tuổi, được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đính chính lại về thời gian tạm giam của bị cáo từ ngày 23/10/2023 đến ngày 06/12/2023, từ ngày 27/12/2023 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh. Đồng thời, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Vũ Mi N gây ra, phân tích về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Mi N từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 128GB, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị hại Lê Thị Yến N1 đã bị bị cáo chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho bị hại Lê Thị Yến N1; Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xám (không rõ biển số), sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, N đã bán xe mô tô trên cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được. Do đó, về vật chứng đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Thị Yến N1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đối với số tiền 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng) bị cáo đã lấy trộm của chị N1 và đã tiêu xài hết, chị N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị về trách nhiệm dân sự.

Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát không đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt nhưng có gửi bản luận cứ bào chữa cho bị cáo như sau: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Mi N đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi sai phạm của mình, không kêu oan. Do đó, về phần tội danh người bào chữa không có ý kiến. Về hình phạt đối với bị cáo, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần thể hiện bị cáo bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên đề nghị xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại Lê Thị Yến N1 vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và có văn bản nêu ý kiến không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Cao Nhan P vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt và có văn bản nêu ý kiến không có yêu cầu gì trong vụ án.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với cha mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, có sự vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị cáo là ông Nguyễn Vũ K1 (Cha của bị cáo) nhưng ông K1 có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời, bị cáo còn có người đại diện hợp pháp khác là bà Nguyễn Thị Mỹ T (Mẹ của bị cáo) nên đã đủ điều kiện xét xử; người bào chữa cho bị cáo là luật sư Lê Văn L vắng mặt nhưng cũng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo. Phiên tòa còn có sự vắng mặt của bị hại Lê Thị Yến N1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Cao Nhan P nhưng chị N1, anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng; chị N1, anh P cũng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của người tham gia tố tụng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 291, Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Vũ Mi N khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được như sau: Khoảng 08 giờ ngày 01/9/2023, tại ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Long An, Nguyễn Vũ Mi N đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút thực hiện hành vi lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 128GB, đã qua sử dụng trị giá 3.975.230 đồng và số tiền Việt Nam 130.000 đồng của chị Lê Thị Yến N1. Tổng cộng tài sản Nguyễn Vũ Mi N chiếm đoạt là 4.105.230đ (Bốn triệu một trăm lẻ năm nghìn hai trăm ba mươi đồng).

Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 12/2024/KLGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P1 kết luận:

  • - Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3-ICD10).
  • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và hiện nay: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (F60.3-ICD10).

Xét thấy, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Vũ Mi N hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, bị cáo vẫn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm đã thực hiện.

Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Mi N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm tài sản thuộc quyền quản lý, sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự địa phương, an toàn xã hội, gây bức xúc trong nhân dân. Trong tình hình hiện nay, tội phạm “Trộm cắp tài sản” nói riêng và các tội phạm nói chung có chiều hướng gia tăng. Hành vi của bị cáo đã ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh, phòng chống tội phạm của địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm theo quy định của pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trên cơ sở xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[5.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ Luật hình sự:

Ngày 21/4/2023, bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự theo Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 21/4/2023, bị cáo chưa chấp hành án phạt tù. Xét thấy, bị cáo bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự, là tội phạm nghiêm trọng nhưng tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và thời điểm bị xét xử bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Do đó, việc bị cáo bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy kết án như đã nêu trên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự. Cụ thể, Điều 107 Bộ luật hình sự quy định về xóa án tích như sau:

“Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý;
  • c) ..........................”

Như vậy, bị cáo không có án tích nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” và cũng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào khác.

[5.2] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, xét thấy bị hại có yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo đã trả lại cho anh Cao Nhan P tiền mà anh P đã mua điện thoại do bị cáo phạm tội mà có (anh P không biết tài sản do bị cáo trộm cắp của chị N1). Do đó, bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5.3] Về nhân thân:

Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 21/4/2023, bị Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 21/4/2023, bị cáo chưa chấp hành án phạt tù. Tiền sự: Ngày 12/7/2023, bị Công an xã T, huyện T, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 122/QĐ-XPVPHC ngày 12/7/2023 về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo đóng phạt vào ngày 11/12/2023.

[6] Trên cơ sở những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã từng bị kết án về tội “Gây rối trật tự công cộng” và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo chưa chấp hành bản án nhưng sau đó không tiếp tục cố gắng lao động tạo ra thu nhập hợp pháp, chấp hành tốt pháp luật để trở thành người công dân tốt mà đã tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 13/6/2023, bị xử phạt hành chính ngày 12/7/2023. Đến ngày 01/9/2023, bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” của chị Lê Thị Yến N1. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và nhằm đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

[7] Từ những phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[8] Bị cáo chưa chấp hành bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 21-4-2023 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nên cần tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

[9] Về hình phạt bổ sung: theo quy định khoản 5 Điều 173 BLHS, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

[10] Đối với hành vi mua tài sản do phạm tội mà có của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Cao Nhan P: Xét thấy anh P mua 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 128GB do Nguyễn Vũ Mi N bán nhưng anh P không biết rõ nguồn gốc tài sản ở đâu mà N có. Bị cáo N không nói cho anh P biết là tài sản do N trộm cắp mà có. Do đó, hành vi của anh Cao Nhan P không có dấu hiệu phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xem xét xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[11] Đối với vật chứng trong vụ án: Tài sản bị cáo trộm cắp là 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 128GB, đã qua sử dụng, là tài sản hợp pháp của bị hại Lê Thị Yến N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho bị hại Lê Thị Yến N1 nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[12] Đối với phương tiện mà bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xám (không rõ biển số), sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, N đã bán xe mô tô trên cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch), Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu hồi được nên không có cơ sở xử lý phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

[13] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi được tài sản mà bị cáo đã trộm cắp và đã trả lại tài sản cho bị hại Lê Thị Yến N1. Đối với số tiền 130.000đ (Một trăm ba mươi nghìn đồng) mà bị cáo đã trộm cắp của chị N1, bị cáo đã tiêu xài hết, hiện nay chị N1 không có yêu cầu bị cáo trả lại và cũng không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Anh Cao Nhan P cũng đã được bị cáo trả lại số tiền 600.000 đồng mà anh P đã trả cho bị cáo để mua điện thoại do bị cáo trộm được của chị N1. Hiện nay anh P không có yêu cầu gì nên không đề cập.

[14] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Mi N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, Điều 50, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Vũ Mi N 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 23/10/2023 đến ngày 26/12/2023).

Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HS-ST ngày 21-4-2023 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (Từ ngày 23/10/2023 đến ngày 26/12/2023).

  1. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Vũ Mi N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Tân Thạnh;
  • - Công an huyện Tân Thạnh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

10

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ Mi N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger