Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

TP. CẦN THƠ

Bản án số 19/2024/HS-ST

Ngày 24/4/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Thanh Huỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Vinh Khải – Hiệu trưởng trường THCS Trung An.

Bà Lê Thị Xuân Hiền – Hiệu trưởng trường THCS Thạnh Phú 1.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2024/TLHS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 11/4/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn P, sinh ngày 09/11/2006; Tên gọi khác: Không; Nơi sinh: quận T, TP .. Đăng ký hộ khẩu thường trú: khu vực P, phường T, quận T, TP .; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P1 (s) và bà Lê Thị H (s); Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 02/12/2022 bị Công an phường T, quận T, TP. xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhân thân: Ngày 01/12/2023 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/4/2024. Nhân thân X.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Giám hộ cho bị cáo P: Chị Lê Thị H, sinh năm 1973. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn P: Ông Lưu Ngọc S – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T4. (có mặt)

- Bị hại: Cháu Võ Huy T, sinh năm 17/01/2008. (có mặt)

Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Võ Huy T: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1990. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Võ Huy T: Bà Nguyễn Thị D - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm T4. (có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Cháu Huỳnh Tiến Đ, sinh ngày 22/7/2009. (có mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

    Người giám hộ cho cháu Đ: Chị Tô Thị Bích H1, sinh năm 1988. (Có mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Huỳnh Tiến Đ: Ông Lê Văn H2 - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm T4. (vắng mặt)

  2. Cháu Trần Quốc K, sinh ngày 02/7/2009. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu K: Ông Lê Văn H2 - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm T4. (vắng mặt)

  3. Cháu Nguyễn Hữu P2, sinh ngày 27/8/2008. (có mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

    Người giám hộ cho cháu P2: Bà Nguyễn Thị Út. (có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu P2: Ông Lưu Ngọc S - Trợ giúp viên pháp lý trung tâm T4. (có mặt)

  4. Cháu Nguyễn Đức H3, sinh ngày 22/7/2009. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP Cần Thơ.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Nguyễn Đức H3: Ông Lê Văn H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm T4. (vắng mặt)

  5. Chị Trần Thị T1, sinh năm 1989. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

  6. Chị Tô Thị Bích H1, sinh năm 1988. (có mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

  7. Bà Lê Thị H4, sinh năm 1969. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

  8. Chị Lê Thị H, sinh năm 1973. (có mặt)

    Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, TP ..

  9. Chị Tăng Thị T2, sinh năm 1990. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

- Người làm chứng:

  1. Cháu Trần Gia T3, sinh ngày 23/5/2008. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

    Người giám hộ cháu T3: Anh Nguyễn Văn H5, sinh năm 1970. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

  2. Cháu Tăng Hồng H6, sinh ngày 23/5/2008. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

    Người giám hộ cháu H6: Chị Trần Thị Mai L, sinh năm 1976. (vắng mặt)

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mâu thuẫn với Võ Huy T sinh ngày 17/01/2008 nên vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/6/2023, Huỳnh Tiến Đ, sinh ngày 22/7/2009 đến gặp Trần Quốc K, sinh ngày 02/7/2009 mượn xe mô tô biển kiểm soát 65EA - 067.95 để đi chém T, K đồng ý đưa xe cho Đ mượn. Trước khi đi, Đ điện thoại rủ Nguyễn Hữu P2 sinh ngày 27/8/2008, đi chém T thì P2 đồng ý, sau đó Đ chạy xe đến đón P2, khi đi P2 đem theo 01 cây dao bằng kim loại màu bạc dài 42 cm, mũi nhọn (dao tự chế). Đ điện thoại cho K kêu tìm người ra chở P2 và Đ điện thoại rủ Nguyễn Văn P đi chém T thì P đồng ý, Đ chở P2 đến cầu T tại phường T, quận T gặp Nguyễn Đức H3 sinh ngày 22/7/2009 (H3 được K kêu đến), H3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68HA - 1176 chở P2, còn Đ chạy một mình đến rước P rồi cả 04 người đến nhà Đ tại khu vực P, phường T, quận T, Đ vào nhà lấy dao bằng kim loại màu trắng, cán bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi bằng kim loại dài 37 cm, mũi bầu (dao tự chế), P điều khiển xe chở Đ, còn H3 chở P2 đến quán nước giải khát Hậu P3 tại ấp T, xã T, huyện C, Đ một mình đi vô còn P2, H3, P ở ngoài, khi gặp T thì Đ dùng dao chém vào tay trái T gây thương tích rồi Đ đi ra xe cùng P, P2, H3 đi về, còn T được đưa đi Bệnh viện Nhi đồng thành phố C điều trị đến ngày 30/6/2023 được ra viện.

Nguyễn Hữu P2 giao nộp 01 dao bằng kim loại màu bạc (dao tự chế) cán dao tròn dài 15 cm, lưỡi dao dài 27 cm, mũi nhọn; Huỳnh Tiến Đ giao nộp 01 dao bằng kim loại màu trắng (dao tự chế) cán bằng gỗ dài 13 cm, lưỡi dao dài 37 cm, mũi bầu.

Trần Thị T1 (mẹ của Trần Quốc K) giao nộp xe mô tô biển kiểm soát 65EA - 067.95; Nguyễn Minh H7 (cha của Nguyễn Đức H3) giao nộp xe mô tô biển kiểm soát 68HA -1176.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C trưng cầu giám định thương tích đối với Võ Huy T và 01 con dao thu giữ của Đ.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 492/KLTTCT-TTPYCT ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C kết luận:

  1. Các kết quả chính:

    Vết thương mặt trước cổ tay trái gây gãy hoàn toàn 1/3 dưới xương trụ trái; đứt động mạch trụ trái, đứt thần kinh trụ trái; đứt toàn bộ gấp các ngón nông, gân gấp cổ tay trụ, gân cơ gan tay dài, đã được điều trị phẫu thuật mở rộng vết thương, kết hợp xương trụ trái, khâu nối thần kinh trụ, khâu nối gân cơ, cột động mạch trụ. Hiện tại vết thương và mở rộng vết thương đã lành sẹo, vị trí gãy xương đang can, tổn thương hoàn toàn thần kinh trụ, không ghi nhận ảnh hưởng chức năng mạch máu vùng cằng, bàn tay trái.

  2. Kết luận:

    2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Võ Huy T tại thời điểm giám định là 25%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

    2.2. Cơ chế hình thành vết thương: thương tích trên cơ thể của ông Võ Huy T phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.

Tại bản kết luận giám định vật gây thương tích số: 810/KLVGTT-TTPYCT ngày 05 tháng 12 năm 2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế thành phố C kết luận:

  1. Các kết quả chính:

    - Mẫu vật có hình dạng: vật có cạnh sắc, mũi bầu nhọn.

    - Thương tích trên cơ thể của ông Võ Huy T phù hợp với cơ chế do vật sắc gây nên.

  2. Kết luận:

    - Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được Cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định mẫu vật có thể gây ra được thương tích của ông Võ Huy T.

    - Căn cứ Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Tòa án nhân dân tối cao xác định mẫu vật giám định là hung khí nguy hiểm.

Nguyễn Hữu P2, sinh ngày 27/8/2008, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra quyết định trưng cầu giám định pháp y về độ tuổi đối với Nguyễn Hữu P2.

Tại bản Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số: 656/KLGDĐT-TTPYCT ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm pháp y thành phố T4 đối với Nguyễn Hữu P2, kết luận: qua quá trình khám giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định Nguyễn Hữu P2 có độ tuổi từ 14 năm 09 tháng đến 15 năm 03 tháng (tại thời điểm giám định ngày 06/10/2023).

Huỳnh Tiến Đ sinh ngày 22/7/2009, Nguyễn Hữu P2, sinh ngày 27/8/2008, Trần Quốc K sinh ngày 02/7/2009, Nguyễn Đức H3 sinh ngày 22/7/2009 đến thời điểm phạm tội Đ, K, H3 chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với Đ, K, H3. Riêng Nguyễn Hữu P2 đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi nên Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với P2.

Võ Huy T yêu cầu bồi thường chi phí điều trị và các chi phí khác 51.000.000 đồng, gia đình của Nguyễn Văn P, Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Đức H3, Trần Quốc K đã bồi thường 38.000.000 đồng.

Về nhân thân của Nguyễn Văn P: ngày 01/12/2023 bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tuyên phạt 03 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản.

Đối với 01 đoạn video trích xuất từ Camera tại quán H8 được lưu theo hồ sơ vụ án.

Các vật chứng còn lại đang tạm giữ chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 06/CT - VKSCĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo.

- Đại diện hợp pháp của bị hại cháu Võ Huy T yêu cầu bị cáo và cháu Huỳnh Tiến Đ, cháu Trần Quốc K, cháu Nguyễn Hữu P2, cháu Nguyễn Đức H3 liên đới bồi thường số tiền còn lại 13.000.000đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận bị cáo và giám hộ của cháu Huỳnh Tiến Đ, giám hộ cháu Nguyễn Hữu P2 đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 13.000.000đồng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại lài 37cm, mũi nhọn; Tịch thu tiêu hủy 01 con do cán bằng kim loại tròn dài 15cm, lưỡi dài 27cm, mũi bầu.

Trả lại 01 xe môtô biển số 65EA-067.95 cùng giấy đăng ký xe cho chị Trần Thị T1.

Trả lại 01 xe môtô biển số 68HA-1176 cùng giấy đăng ký xe cho chị Tăng Thị T2.

Người bào chữa cho bị cáo P trình bày: Về tội danh thống nhất truy tố bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong vụ án bị cáo chỉ đồng phạm giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại, không mâu thuẫn với bị hại. Người bào chữa thống nhất các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát đề nghị. Số tiền bồi thường còn lại bị cáo và những người liên quan đến việc gây thương tích cho bị hại cũng đồng ý bồi thường và bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa thành niên khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên mức án thấp hơn mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Võ Huy T trình bày: Hành vi bị cáo xâm hại sức khoẻ của bị hại, thống nhất công nhận bị cáo và giám hộ của cháu Huỳnh Tiến Đ, giám hộ cháu Nguyễn Hữu P2 đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 13.000.000đồng. Bị hại yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Qua đối chiếu quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhận thấy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo thống nhất với nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và khai nhận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/6/2023 bạn bị cáo là Huỳnh Tiến Đ điện thoại rủ bị cáo đi chém bị hại Võ Huy T thì bị cáo đồng ý. Sau đó, Đ hẹn bị cáo cùng với Nguyễn Hữu P2, Nguyễn Đức H3 gặp tại cầu T tại phường T, quận T, TP .. Sau đó cả 04 người đi thống nhất đi tìm T chém, bị cáo chở Đ, còn H3 chở P2 đi tìm T chém, khi đi mang theo 02 con dao, P2 cầm 01 cây dao, Đ cầm 01 cây dao. Khi đến quán H8 thuộc ấp T, xã T, huyện C thì gặp T ngồi uống cà phê tại quán. Đ một mình vào chém T, bị cáo ngồi ngoài xe đợi, sau khi chém Thái xong bị cáo chở Đ đi về nhà.

Căn cứ kết luận giám định tỷ lệ thương tật của cháu Võ Huy T là 25%.

Lời khai nhận tội của bị cáo, lời khai của Huỳnh Tiến Đ, Nguyễn Hữu P2, Nguyễn Đức H3, Trần Quốc K phù hợp với những chứng cứ thu thập có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa. Xét thấy, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì bạn mình là Huỳnh Tiến Đ với bị hại cháu Võ Huy T có chút hiểu lầm, mâu thuẫn nhỏ, lẽ ra bị cáo phải khuyên can nhưng vì bản tính bốc đồng, hiếu thắng khi được Đ rủ đi chém T thì bị cáo đồng ý, bị cáo không trực tiếp gây thương tích cho T nhưng là người giúp sức tích cực, chở Đ đi tìm T chém gây thương tích, bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm, bị cáo chịu trách nhiệm do hành vi cố ý gây thương của Đ đối với T. Hành vi gây thương tích cho bị hại, xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, tỷ lệ thương tích gây ra cho bị hại là 25% và thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường khắc phục hậu quả, trình độ học vấn thấp, người bị hại yêu cầu bãi nại yêu cầu giảm nhẹ hình phạt, đây là tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về mức hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù. Xét thấy, bị cáo chỉ vì chút mâu thuẫn nhỏ giữa bạn bị cáo và bị hại mà chuẩn bị hung khí nguy hiểm, cố ý gây thương tích cho bị hại. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung theo mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[3] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đại diện gia đình bị hại yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 13.000.000đồng. Tại phiên tòa, bị cáo và giám hộ của cháu Huỳnh Tiến Đ, giám hộ cháu Nguyễn Hữu P2 đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 13.000.000đồng, trong đó bị cáo bồi thường 5.000.000đồng, gia đình cháu Huỳnh Tiến Đ bồi thường 5.000.000đồng, gia đình cháu Nguyễn Hữu P2 bồi thường 3.000.000đồng nên công nhận là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao cán gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại dài 37cm, mũi nhọn và 01 con do cán bằng kim loại tròn dài 15cm, lưỡi dài 27cm, mũi bầu là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 xe môtô biển số 65EA-067.95 cùng giấy đăng ký xe của chị Trần Thị T1 là mẹ của Trần Quốc K. Chị T1 không biết K cho mượn xe để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại xe cho chị T1 là phù hợp.

Đối với 01 xe môtô biển số 68HA-1176 cùng giấy đăng ký xe của chị Tăng Thị T2. Chị T2 không biết Nguyễn Đức H3 dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại xe cho chị T2 là phù hợp.

Đối với Huỳnh Tiến Đ sinh ngày 22/7/2009, Nguyễn Hữu P2, sinh ngày 27/8/2008, Trần Quốc K sinh ngày 02/7/2009, Nguyễn Đức H3 sinh ngày 22/7/2009 đến thời điểm phạm tội Đ, K, H3 chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không xử lý đối với Đ, K, H3 là phù hợp. Riêng Nguyễn Hữu P2 đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi nên Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với P2 là phù hợp.

[5] Về án sơ thẩm: Căn cứ điểm a, điểm f, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 17, Điều 38; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589, Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015.

Công nhận bị cáo Nguyễn Văn P, gia đình cháu Huỳnh Tiến Đ, gia đình cháu Nguyễn Hữu P2 và bị hại về thống nhất bồi thường cho bị hại cháu Võ Huy T số tiền 13.000.000đồng. (Trong đó, bị cáo Nguyễn Văn P bồi thường 5.000.000đồng, gia đình cháu Huỳnh Tiến Đ bồi thường 5.000.000đồng, gia đình cháu Nguyễn Hữu P2 bồi thường 3.000.000đồng)

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao cán gỗ dài 13cm, lưỡi bằng kim loại dài 37cm, mũi nhọn và 01 con do cán bằng kim loại tròn dài 15cm, lưỡi dài 27cm, mũi bầu là công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị.

Trả lại 01 xe môtô biển số 65EA-067.95 cùng giấy đăng ký xe cho chị Trần Thị T1 .

Trả lại 01 xe môtô biển số 68HA-1176 cùng giấy đăng ký xe cho chị Tăng Thị T2.

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Bị cáo Nguyễn Văn P phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Phiên tòa xét xử công khai, tuyên án có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Huỳnh Tiến Đ, cháu Nguyễn Hữu P2. Vắng mặt người bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Huỳnh Tiến Đ, cho cháu Nguyễn Hữu P2, cho cháu Nguyễn Đức H3, vắng mặt cháu Trần Quốc K, cháu Nguyễn Đức H3, chị Trần Thị T1, bà Lê Thị H4, chị Tăng Thị T2.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân TP. Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Cờ Đỏ;
  • - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Cờ Đỏ;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Cờ Đỏ;
  • - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Thanh Huỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ về hình sự: cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, TP. CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger