|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY - TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày 30-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phú Duy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Viết Thắng
Bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TY, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Minh T – Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17-11-1978 tại Yên Bái; Nơi cư trú: Thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1942 và con bà Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ: Trần Thị P, sinh năm 1984; Con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014). Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 05-11-2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, tại bản án số 74/2014/HSST (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-5-2023 đến ngày 22-5-2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
2. Trần Ngọc T1 – Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03-01-1987 tại Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T2 (sinh năm 1951) và con bà Phùng Thị S1, sinh năm 1956; Vợ: Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1987; Con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2022). Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 27-9-2019 bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 280/QĐ-XPHC (được coi là không có tiền sự).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-5-2023 đến ngày 22-5-2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
- - Ông Lê Văn N, sinh năm 1980. Có mặt
- Trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái.
- - Ông Trần Ngọc T2, sinh năm 1951. Có mặt
- Trú tại: Thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- - Bà Phùng Thị S1, sinh năm 1956. Có mặt
- Trú tại: Thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
- - Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1987. Có mặt
- T4 tại: Tổ E, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Cao Thị L1, sinh năm 1960. Có mặt
- Trú tại: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái
- - Chị Trần Thị P, sinh năm 1984. Có mặt
- Trú tại: Thôn X, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái
- - Chị Lê Thị Thanh T3, sinh năm 1987. Có mặt
- Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh T không thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể và cũng không được cấp giấy chứng nhận đủ kiều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật nhưng đã buôn bán thuốc bảo vệ thực vật từ tháng 4-2022 và đều là buôn bán hàng giả.
Ngày 12-5-2023 tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Y phối hợp với Cảnh sát giao thông Công an huyện V đang làm nhiệm vụ trên tuyến đường M - L đã phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 21C-089.79 (do Trần Minh T điều khiển, ngồi bên ghế phụ là Trần Ngọc T1) có dấu hiệu nghi vấn vận chuyển hàng cấm, đã tiến hành kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện sau thùng xe ô tô có 12 thùng hàng hóa, ghi nhãn hiệu “BIOGLY 88.8"; NIPHOSATE 480SL; BRAVO và 01 bao tải có ghi chữ nước ngoài không có hóa đơn, giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản tạm giữ 01 chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu FORD RANGER,
biển kiểm soát 21C-089.79; 06 điện thoại di động và toàn bộ số hàng hóa ghi là thuốc bảo vệ thực vật không có hóa đơn, chứng từ, gồm:
- 05 (năm) thùng bìa cát tông màu nâu, trên thùng có chữ “Thuốc trừ cỏ BRAVO", trong mỗi thùng có 20 chai, dung tích 900ml/chai. Trên nhãn mác ghi Công ty cổ phần B (địa chỉ số A, phố H, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội).
- 05 (năm) thùng bìa cát tông màu nâu sáng, trên thùng có chữ “Thuốc trừ cỏ NIPHOSATE 480SL”, trong mỗi thùng có 20 chai, dung tích 900ml/chai. Trên nhãn mác ghi Công ty cổ phần N1 (địa chỉ số A phố V, phường P, quận L, thành phố Hà Nội).
- 02 (hai) thùng bìa cát tông màu nâu sáng, trên thùng có chữ “BIO-AGRITECH CO., LTD”, khối lượng 14,1 kg/01 thùng. Trong mỗi thùng có chứa 250 gói bằng nilon, trên gói có chữ “BIOGLY 88.8”. Trên nhãn mác ghi Công ty TNHH N2, địa chỉ thôn A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
- 01 (một) bao tải màu trắng, khối lượng 20kg, bên trong có chứa 20 hộp giấy, trong mỗi hộp giấy có chứa 90 ống nhựa bên trong có chứa chất lỏng màu đỏ (nghi là thuốc diệt Chuột).
Trần MinhThỏa, Trần Ngọc T1 khai nhận toàn bộ số thuốc bảo vệ thực vật thuốc diệt cỏ, đồ vật có liên quan trên xe ô tô là của Trần Minh T còn Trần Ngọc T1 đi cùng để bán và hiện còn một số lượng thuốc bảo vệ thực vật là hàng giả của các công ty T1 và T đang cất giấu tại một số địa điểm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc của một số đối tượng. Kết quả khám xét đã tạm giữ một số đồ vật, hàng hóa nghi là thuốc bảo vệ thực vật, cụ thể:
- Tại chỗ ở của bà Cao Thị L1, sinh năm 1960, cư trú tại thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái (là mẹ vợ bị can Trần Ngọc T1), tạm giữ đồ vật dùng để san chiết đóng gói thuốc bảo vệ thực vật giả và hàng hóa với khối lượng khoảng 3.900 kg nghi là thuốc bảo vệ thực vật, ghi nhãn hiệu “BIOGLY 88.8".
- Tại xưởng san chiết, đóng chai thuốc bảo vệ thực vật của bị can Trần Ngọc T1 (địa chỉ khu A, xã X, huyện T, tỉnh Phú Thọ) tạm giữ khối lượng khoảng 530 kg hàng hóa nghi là thuốc bảo vệ thực vật không ghi nhãn mác hàng hóa và một số thiết bị, đồ dùng để phục vụ việc san chiết, đóng chai thuốc bảo vệ thực vật.
- Tại chỗ ở của ông Lê Văn N, sinh năm 1980, cư trú tại thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái (chú bên vợ của Trần Ngọc T1) tạm giữ với khối lượng khoảng 2.500 kg hàng hóa nghi là thuốc bảo vệ thực vật và đồ vật có liên quan, trong đó có:
- 56 (năm mươi sáu) thùng bìa carton hình hộp chữ nhật có màu nâu sáng (các thùng có các kích thước khác nhau). Trong mỗi thùng có 20 chai nhựa, nắp chai màu đỏ, thân chai được dán nhãn có dòng chữ “LYPHOXIM 41SL” và dòng chữ “Thể tích thực 900ml”, tổng cộng 1.120 chai, trên nhãn mác ghi Công ty B1 (địa chỉ Khu phố A, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh).
- 120 (một trăm hai mươi) chai nhựa, nắp chai màu đỏ, thân chai được dán nhãn có dòng chữ “LYPHOXIM 41SL” và dòng chữ “Thể tích thực 900ml”. Trên nhãn mác ghi Công ty B1 ( địa chỉ Khu phố A, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh).
- 25 (hai mươi lăm) thùng bìa carton hình hộp chữ nhật có màu nâu sáng, kích thước khoảng 49 cm x 40 cm x24 cm. Trong mỗi thùng có 20 chai nhựa, nắp chai màu đỏ, thân chai được dán nhãn có dòng chữ “GLYPHOSAN” và dòng chữ “Thể tích thực 900ml”, tộng cổng 500 chai, trên nhãn mác ghi Công ty cổ phần T5 (địa chỉ 23, H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang).
Tại kết luận số 3644/KL-KTHS ngày 19-5-2023 của V Bộ C kết luận: Các chất lỏng có trong chai thuốc bảo vệ thực vật có nhãn hiệu LYPHOXIM 41SL và GLYPHOSAN 480SL đều chứa hoạt chất Glyphosate;
Glyphosate không có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam và danh mục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam.
Tại kết luận số 376/KL-KTHS ngày 4-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Về tem nhãn dán thuốc trừ cỏ GLYPHOSAN 480SL đề tên Công ty cổ phần T5; Thuốc trừ cỏ LYPHOXIM 41SL đề tên công ty B1 đều không được in ra từ một biểu mẫu, đặc điểm nội dung, bố cục trên dán nhãn khác so với đặc điểm nội dung, bố cục trên bản in màu nhãn dán mẫu.
Tại kết luận định giá tài sản số: 1257/KL-HĐĐG ngày 19-7-2023 và số 201/KL-HDDGTS ngày 30-01-2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình tụng hình sự tỉnh Yên Bái kết luận:
- 1.240 chai thuốc trừ cỏ có dán tem nhãn “Thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM 41SL - CÔNG TY BẢO VỆ THỰC VẬT SÀI GÒN”, thể tích thực: 900ml tương đương với giá trị của 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật FASFIX 150SL/900CC-ANCOM tại thời điểm tháng 05-2023, có giá trị là 217.868.000 đồng
- 500 chai thuốc trừ cỏ có dán tem nhãn thể hiện: Thuốc bảo vệ thực vật GLYPHOSAN - Công ty cổ phần T5. Thể tích thực 900ml tương đương với giá trị của 500 chai thuốc bảo vệ thực vật GLUFOSAN tại thời điểm tháng 05-2023, có giá trị là 80.010.000 đồng.
Tổng giá trị hàng hóa được định giá là: 297.878.000 đồng
Tại kết luận số 6815/KL-KTHS ngày 19-9-2023 của V Bộ C kết luận: Hàm lượng nồng độ hoạt chất Glyphosate có trong các mẫu thuốc bảo vệ thực vật gửi đi giám định trong đó có thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM 41 SL không đạt hàm lượng theo giấy chứng nhận đăng ký và ghi trên nhãn mác sản phẩm (hàm lượng đều dưới 70% so với hàm lượng hoạt chất ghi trên bao bì và giấy chứng nhận đăng ký thuốc bảo vệ thực vật)
Cũng tại kết luận định giá số 201/KL-HĐĐGTS ngày 30-01-2024 của Hội định định giá tài sản trong tố tụng tỉnh Yên Bái kết luận: Hội đồng không thực hiện định giá được do không có đủ cơ sở, tài liệu tại thời điểm tháng 5-2023 đối với số lượng các loại thuốc bảo vệ thực vật có dán tem nhãn, gồm: Thuốc trừ cỏ NIPHOSATE 480SL- Công ty cổ phần N1; Thuốc trừ cỏ BRAVO- Công ty cổ phần B; thuốc trừ cỏ dán tem nhãn Glyphosanteipasatt- Công ty H; thuốc trừ cỏ HELOSATE- Công ty G1; Thuốc trừ cỏ thế hệ mới BIOGLY 88.8 sp, 50 gr - Công ty TNHH N2".
Đại diện của Công ty B1 và Công ty cổ phần T5 đều xác định không bán thuốc bảo vệ thực vật tương ứng cho bị cáo Trần Minh T và bị cáo Trần Ngọc T1.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Bị cáo Trần Minh T khai nhận đã buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả từ tháng 4-2022 gồm nhiều loại của các công ty khác nhau, trong đó có hai loại mang nhãn hiệu LYPHOXIM 41SL và GLYPHOSAN 480SL. Nguồn gốc thuốc bảo vệ thực vật do bị cáo liên lạc và đặt mua qua mạng xã hội của các đối tượng không quen biết, không có thông tin về tên tuổi, địa chỉ. Thuốc bảo vệ thực vật được gửi lên cho bị cáo bằng xe khách, bị cáo cũng trả tiền cho xe khách (thu tiền hộ người bán). Khi người bán gửi thuốc bảo vệ thực vật cho bị cáo, bị cáo đã liên lạc nhờ Trần Ngọc T1 nhận hộ và cất hàng hóa tại nhà ông Trần Ngọc T2, bà Phùng Thị S1, sau đó bị cáo cũng bán cho khách hàng qua mạng xã hội. Đối với 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật loại LYPHOXIM 41SL, mỗi chai có thể tích 900ml, nhãn mác ghi đơn vị đăng ký sang chai và phân phối là Công ty B1 được đựng trong 62 thùng, mỗi thùng có chứa 20 chai và mua với giá khoảng 60.000 đồng/chai, đã bán với giá khoảng 80.000 đồng/chai nhưng do chất lượng không đảm bảo, phun lên cỏ nhưng cỏ không chết, nên người mua gửi trả lại, người mua chưa thanh toán tiền; Đối với 500 chai thuốc bảo vệ thực vật loại GLYPHOSAN 480SL, mỗi chai có thể tích 900ml, trên nhãn mác ghi đơn vị đăng ký sang chai và phân phối là Công ty cổ phần T5 được đựng trong 25 thùng, mỗi thùng có chứa 20 chai, mua với giá khoảng 40.000 đồng/chai, đã bán với giá khoảng 60.000 đồng/chai, nhưng do chất lượng thuốc trừ cỏ không đảm bảo, phun lên cỏ nhưng cỏ không chết, nên người mua gửi trả lại, người mua chưa thanh toán tiền.
Khi người mua trả lại số lượng thuốc bảo vệ thực vật nêu trên, Trần Minh T lại nhờ Trần Ngọc T1 tiếp nhận hộ và mang đến cất giấu tại nhà ông Lê Văn N (chú bên vợ của Trần Ngọc T1) tại thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Ngoài ra, bị cáo Trần Minh T còn cùng với bị cáo Trần Ngọc T1 sản xuất hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật BIOGLY 88.8 sp.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xử lý các tài sản, đồ vật, hàng hoá không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
Vật chứng, tài sản của vụ án gồm:
- 01 chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu FORD RANGER, biển kiểm soát 21C-089.79 của bị cáo Trần Minh T, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng.
- 03 điện thoại di động của bị cáo Trần Minh T (01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 6S vỏ máy màu hồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 6S, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng).
- 03 điện thoại di động của bị cáo Trần Ngọc T1 (01 điện thoại di động loại OPPO, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động loại NOKIA 8800 vỏ màu vàng, có họa tiết giả da màu nâu; 01 điện thoại di động loại IPHONE 8 Plus, vỏ màu trắng, có ốp lưng.
- Số lượng 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật loại LYPHOXIM, có thể tích 900ml, nhãn mác ghi đơn vị đăng ký sang chai và phân phối là Công ty B1 (địa chỉ Khu phố A, phường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh) được đựng trong 62 thùng giấy cartong, mỗi thùng có chứa 20 chai.
- Số lượng 500 chai thuốc bảo vệ thực vật loại GLYPHOSAN, có thể tích 900ml, trên nhãn mác ghi đơn vị đăng ký sang chai và phân phối là Công ty cổ phần T5 (địa chỉ 23, H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang) được đựng trong 25 thùng giấy cartong, mỗi thùng có chứa 20 chai.
Cáo trạng số 46/CT-VKSYB-P1 ngày 27-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố Trần Minh T và Trần Ngọc T1 về tội “Mua bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” theo điểm g khoản 2 Điều 195 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Minh T và Trần Ngọc T1 phạm tội “Mua bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”.
Về hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 195; các điểm s, t, u khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 600.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 195; các điểm s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T1 từ 400.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng, tài sản thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM và 500 chai thuốc bảo vệ thực vật GLYPHOSAN.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu IPHONE 6S màu bạc của Trần Minh T và 01 (một) chiếc điện thoại IPHONE 8 PLUS màu trắng của Trần Ngọc T1.
- Trả lại cho bị cáo Trần Minh T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 6S vỏ màu hồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng và 01 chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu FORD RANGER, biển kiểm soát 21C- 089.79 của bị can Trần Minh T, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho các bị cáo Trần Ngọc T1 01 điện thoại di động loại OPPO, vỏ màu đen và 01 điện thoại di động loại NOKIA 8800 vỏ màu vàng, có họa tiết giả da màu nâu.
Về kê biên tài sản: Đề nghị HĐXX tiếp tục kê biên tài sản theo lệnh kê biên của Cơ quan điều tra đối với bị cáo Trần Ngọc T1.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
Bà Cao Thị L1 trình bày vẫn chưa được nhận lại 01 chiếc camera bị thu giữ khi Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của bà và đề nghị được nhận lại.
Chị Trần Thị P trình bày chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu FORD RANGER, biển kiểm soát 21C- 089.79 là tài sản chung của chị với bị cáo Trần Minh T, không liên quan đến tội phạm nên đề nghị được nhận lại.
Chị Lê Thị Thanh T3 đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục thực hiện Lệnh kê biên tài sản của Cơ quan điều tra để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo Trần Ngọc T1 là chồng của chị.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Toà án đã tiến hành trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện TY để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện TY không tiến hành được và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố nên Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Trong thời gian từ tháng 04-2022 đến tháng 05-2023, bị cáo Trần Minh T biết thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM 41SL được làm giả sản phẩm của Công ty B1 và thuốc bảo vệ thực vật GLYPHOSAN được làm giả sản phẩm của Công ty cổ phần T5, nhưng do hám lợi đã thực hiện hành vi buôn bán thuốc bảo vệ thực vật giả với số lượng 1.740 chai thuốc trừ cỏ (trong đó: 1.240 chai thuốc trừ cỏ có dán tem nhãn “Thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM 41SL – Công ty B1, thể tích thực: 900ml” tương đương với giá trị của 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật FASFIX 150SL/900CC-ANCOM tại thời điểm tháng 05-2023 được Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Yên Bái định giá là 217.868.000 đồng và 500 chai thuốc trừ cỏ có dán tem nhãn “Thuốc bảo vệ thực vật GLYPHOSAN - Công ty cổ phần T5, thể tích thực 900ml”, tương đương với giá trị của 500 chai thuốc bảo vệ thực vật GLUFOSAN tại thời điểm tháng 05-2023 được Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Yên Bái định giá là 80.010.000 đồng. Toàn bộ hàng giả có tổng giá trị là 297.878.000 đồng.
Nguồn gốc số lượng thuốc bảo vệ thực vật nêu trên do bị cáo mua của các đối tượng không quen biết thông qua mạng xã hội. Khi người mua chuyển hàng đến cho bị cáo T, bị cáo T đã liên lạc với bị cáo T1 nhờ bị cáo T1 nhận hàng hóa hộ rồi cất tại nhà bố mẹ đẻ của bị cáo T1 là ông Trần Ngọc T2 và bà Phùng Thị S1. Sau đó bị cáo T đã gửi qua xe khách để bán số hàng trên cho người mua. Các bị cáo không còn lưu giữ thông tin gì liên quan đến những người mua bán.
Do các loại thuốc bảo vệ thực vật nêu trên đều là hàng giả, người mua phun thử lên cỏ nhưng cỏ không chết nên gửi đã trả lại cho bị cáo Trần Minh T. Khi bị người mua gửi trả lại, bị cáo Trần Minh T lại tiếp tục nhờ bị cáo Trần Ngọc T1 nhận hộ và cất giấu toàn bộ số thuốc bảo vệ thực vật giả đã nêu ở trên tại nhà ông Lê Văn N. Bị cáo Trần Ngọc T1 biết rõ đây là các sản phẩm được làm giả nhưng vẫn nhận hộ và cất giấu giúp bị cáo Trần Minh T. Do đó bị cáo Trần Ngọc T1 đồng phạm với bị cáo Trần Minh T.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trần Minh T, Trần Ngọc T1 đã phạm tội “Buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 195 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất của vụ án: Các bị cáo đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Bị cáo Trần Minh T là người biết rõ các thuốc bảo vệ thực vật có chứa hoạt chất G đã bị ngừng sản xuất, kinh doanh, biết rõ các loại thuốc bảo vệ thực vật mà bị cáo buôn bán là hàng giả nhưng vì hám lợi nên vẫn cố ý thực hiện; Bị cáo Trần Ngọc T1 biết rõ các loại thuốc bảo vệ thực vật mà bị cáo Trần Minh T buôn bán là hàng giả nhưng vẫn nhận hộ và cất giấu giúp bị cáo T để bị cáo T bán cho người khác. Do đó cần phải đưa các bị cáo ra xử lý nghiêm trước pháp luật.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Minh T là người trực tiếp buôn bán hàng giả và sẽ là người được hưởng toàn bộ lợi ích từ việc buôn bán hàng giả; bị cáo Trần Ngọc T1 chỉ là người giúp bị cáo Trần Minh T nhận hàng từ người bán, cất giấu rồi lại nhận lại khi bị người mua trả lại, cất giấu, bị cáo Trần Ngọc T1 không được hưởng lợi gì. Do đó bị cáo Trần Minh T giữ vai trò chính, bị cáo Trần Ngọc T1 giữ vai trò người giúp sức trong vụ án.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo đã có hành vi tố giác tội phạm được cơ quan có thẩm quyền xác nhận nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm t, u khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Ngoài ra bị cáo Trần Ngọc T1 có ông nội là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt:
[5.1] Về hình phạt chính: Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã thực sự ăn năn hối cải, tội phạm mà các bị cáo thực hiện xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế. Do đó Hội động xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo
[5.2] Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM 41SL và 500 chai thuốc bảo vệ thực vật GLYPHOSAN là hàng giả nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S, vỏ màu bạc của bị cáo Trần Minh T và 01 điện thoại IPHONE 8S Plus, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Trần Ngọc T1 có liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 6S vỏ màu hồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng và 01 chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu FORD RANGER, biển kiểm soát 21C- 089.79 của bị cáo Trần Minh T, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng đều không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo Trần Minh T.
- Đối với 01 điện thoại di động loại OPPO, vỏ màu đen và 01 điện thoại di động loại NOKIA 8800 vỏ màu vàng, có họa tiết giả da màu nâu đều không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo Trần Ngọc T1.
[7] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành kê biên tài sản là thửa đất số 139, diện tích 79,5 m², tờ bản đồ số 18 và tài sản gắn liền với đất tại tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đối với bị cáo Trần Ngọc T1. Đây là tài sản chung của bị cáo với chị Lê Thị Thanh T3, bị cáo và chị T3 đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục kê biên, ngoài ra bị cáo Trần Ngọc T1 bị áp dụng hình phạt tiền nên cần tiếp tục kê biên tài sản nên trên là phù hợp.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với các loại thuốc bảo vệ thực vật giả không định giá được nên không có căn cứ để xử lý những người liên quan, Cơ quan điều tra phối hợp với những người liên quan để tiêu huỷ là phù hợp.
Đối với chiếc camera thu giữ của bà Cao Thị L1, không được lưu giữ tại kho vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bà Cao Thị L1 được quyền liên hệ với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y để xem xét, giải quyết.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TY là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Minh T, Trần Ngọc T1 phạm tội “Buôn bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 195; các điểm s, t, u khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh T 700.000.000 đồng.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 195; các điểm s, t, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc T1 500.000.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 1.240 chai thuốc bảo vệ thực vật LYPHOXIM và 500 chai thuốc bảo vệ thực vật GLYPHOSAN.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại IPHONE 6S, vỏ màu bạc của bị cáo Trần Minh T và 01 điện thoai IPHONE 8S Plus, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng của bị cáo Trần Ngọc T1.
- Trả lại cho bị cáo Trần Minh T 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 6S vỏ màu hồng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 13 Promax màu xanh, đã qua sử dụng và 01 chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu FORD RANGER, biển kiểm soát 21C-089.79 của bị cáo Trần Minh T, tình trạng xe cũ, đã qua sử dụng;
- Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc T1 01 điện thoại di động loại OPPO, vỏ màu đen và 01 điện thoại di động loại NOKIA 8800 vỏ màu vàng, có họa tiết giả da màu nâu.
(Toàn bộ vật chứng vẫn đang được niêm phong và lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TY, đặc điểm của vật chứng được miêu tả trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-7-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện TY).
4. Về kê biên tài sản: Căn cứ Điều 128; Điều 130 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tiếp tục kê biên tài sản là thửa đất số 139, diện tích 79,5 m², tờ bản đồ số 18 và tài sản gắn liền với đất tại tổ dân phố Đ, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phú Duy |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI về mua bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật (criminal)
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán hàng giả là thuốc bảo vệ thực vật (Criminal)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TY, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Th và ĐP buôn bán thuốc BVTV giả
