TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Anh.
Ông Nguyễn Văn Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện VKSND huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Bà Phan Quỳnh N - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Chí T (Tên gọi khác: Cu Tư), Sinh ngày 19 tháng 11 năm 1999 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1976 và bà Lê Thị Mỹ T2, sinh năm 1977; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/10/2023 bị Chủ tịch UBND huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong). Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Từ Quốc A (Tên gọi khác: B), S ngày 20 tháng 5 năm 1998 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Từ Khắc C, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Hồng B1, sinh năm 1977; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 19/6/2023, Nguyễn Chí T sử dụng Zalo của mình có tên “Chí Toàn” gọi vào Zalo có tên “Thi Thi” (số điện thoại đăng ký Zalo: 0708.108.xxx) của người phụ nữ tên T3 ở thành phố T, tỉnh Phú Yên (không biết họ, tên và địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, T3 đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực phía sau Bến xe T thuộc thành phố T để giao nhận ma túy. Sau khi đặt mua ma túy thì T sử dụng tài khoản ví điện tử Momo của mình số 0336110726 chuyển khoản 250.000 đồng vào ví điện tử Momo của T3 số 0708108118 để trả tiền mua ma túy, còn 50.000 đồng khi nào nhận được ma túy sẽ thanh toán. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển số 78K1 - 211.28 của mình đi từ nhà đến khu vực phía sau Bến xe T thì có một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, sơn màu X (không nhớ biển số kiểm soát) đến gặp T giao một đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy, T nhận ma túy và trả 50.000 đồng còn lại, sau đó T điều khiển xe về nhà. Về đến nhà, T sử dụng Zalo của mình gọi vào Zalo của Từ Quốc A và rủ A đến nhà T để sử dụng ma túy, Anh đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Anh nhờ Nguyễn Hoài P chở Anh đến nhà của T. Đến nơi, A đi vào nhà T, còn P đi về. Lúc này, T nói với Anh qua nhà nghỉ H thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ để sử dụng ma túy, Anh đồng ý nên T hỏi mượn chiếc xe mô tô biển số 78K1 - 211.47 của chị gái là chị Nguyễn Thị Mỹ B2 chở Anh đến nhà nghỉ H. Trên đường đi, T nói với A còn tiền thì góp trả tiền phòng thì A trả lời: “Còn 200.000 đồng đây, khỏi lo đi, có gì chơi xong trả tiền phòng nhà nghỉ”. Sau khi thuê phòng tại nhà nghỉ H, T và A thay phiên nhau hút hết ma túy rồi cả hai nằm trên giường chơi game. Đến 23 giờ 50 phút cùng ngày, Công an huyện Đ phối hợp Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện.
Ngoài ra, quá trình điều tra đủ chứng cứ xác định:
Khoảng 15 giờ ngày 17/6/2023, Nguyễn Chí T sử dụng số điện thoại 0336.110.xxx của mình gọi đến số điện thoại di động 0708.108.xxx của người phụ nữ tên T3 để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, T3 đồng ý bán và hẹn T đến khu vực phía sau Bến xe T thuộc thành phố T, tỉnh Phú Yên để giao ma túy. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô biển số 78K1 - 211.28 của mình, để đến điểm hẹn thì gọi điện cho T3, sau đó có một nam thanh niên điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, sơn màu X (không nhớ biển số kiểm soát) đến gặp và giao cho T một túi nylon nhỏ, màu trong suốt được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy đá. Nhận được ma túy và đưa số tiền 300.000 đồng cho người nam thanh niên, T điều khiển xe mô tô đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T sử dụng Zalo của mình gọi vào Zalo của Từ Quốc A rủ A đến nhà T uống cà phê. Khoảng 15 đến 20 phút sau, Anh một mình điều khiển chiếc xe mô tô biển số 78K1 - 169.17 của gia đình (do mẹ của T là bà Lê Thị Hồng B1 đứng tên chủ sở hữu) đến nhà T. Trong quá trình uống cà phê, T rủ Anh lên bãi rác ở giáp ranh xã X thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ để sử dụng ma túy, Anh đồng ý. Sau khi T chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy và bì nylon chứa ma túy mua được của T3 trước đó thì A điều khiển xe mô tô biển số 78K1 - 169.17 chở T đến bãi rác để sử dụng ma túy. Khi đến nơi, T hút một hơi đầu tiên, tiếp đó T đốt nóng ma túy đưa cho A hút, rồi Anh đốt nóng ma túy đưa cho T hút, cả hai thay phiên nhau đốt, hút ma túy được khoảng 30 phút thì hết lượng ma túy. Sau đó, A điều khiển xe mô tô chở T đến quán C1 thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ để uống cà phê.
Tại Bản Kết luận giám định số 282/KL-KTHS, ngày 30/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P, kết luận:
- Chất màu trắng xám (ký hiệu A1) bám dính trong ống thủy tinh trong suốt do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ gửi yêu cầu giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.
- Chai nhựa có nắp đậy màu đỏ (ký hiệu A2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.
- Ống nhựa trong suốt dài 14,5cm (ký hiệu A3) do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng bám dính ít nên không xác định được khối lượng.
- Ống nhựa trong suốt dài 03cm (ký hiệu A4) do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ gửi giám định không tìm thấy chất ma túy.
- Chất bột màu trắng (ký hiệu A5) trong ly thủy tinh trong suốt do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,658g (không phảy sáu trăm năm mươi tám gam), loại Ketamine.
- Chất lỏng màu vàng trong lọ nhựa (ký hiệu A6) ghi tên Nguyễn Chí T có thể tích 17ml do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ gửi giám định có thành phần ma túy, loại Methamphetamine.
- Chất lỏng màu vàng trong lọ nhựa (ký hiệu A7) ghi tên Từ Quốc A có thể tích 18ml do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ gửi giám định có thành phần ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS-ĐX ngày 16/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Chí Toàn, Từ Quốc Anh về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS.
* Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên các bị cáo Nguyễn Chí T, Từ Quốc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Chí T, Từ Quốc A. Riêng bị cáo Từ Quốc A được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Chí T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
- Bị cáo Từ Quốc A từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Về vật chứng vụ án:
- Đề nghị HĐ XX áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Tịch thu tiêu huỷ vật chứng, đồ vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng.
- Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu nộp ngân sách vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội gồm những chiếc điện thoại các đối tượng dùng để liên lạc mua, sử dụng ma túy.
* Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, các bị cáo xin Tòa xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và các vật chứng thu giữ được; phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân đã truy tố. HĐXX đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Chí T và Từ Quốc A đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần, cụ thể: 01 lần vào ngày 17/6/2023 tại bãi rác thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ và 01 lần ngày 19/6/2023 tại nhà nghỉ H thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Chí T, Từ Quốc A đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 BLHS. Do đó, Cáo trạng số: 18/CT-VKSĐX ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- [3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy còn là nguyên nhân chính làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, làm tổn hại sức khỏe, nhân cách, khả năng lao động của người sử dụng. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vẫn thực hiện hành vi mua, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Do vậy, cần xét xử nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với mức độ phạm tội của từng bị cáo. Khi quyết định hình phạt, cần phân tích mức độ, động cơ, mục đích, vai trò và nhân thân của từng bị cáo để quyết định hình phạt phù hợp.
- [3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Chí T: Bị cáo là người mua ma túy từ một người phụ nữ tên T3 ở thành phố T 02 lần, chuẩn bị dụng cụ, sau đó đã rủ rê và cùng với Từ Quốc A tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần. Vào ngày 19/10/2023, bị cáo còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Chủ tịch UBND huyện Đ, tỉnh Phú Yên ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.250.000đ. Điều đó chứng tỏ khả năng tự cải tạo của bị cáo rất kém, nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm hơn bị cáo Từ Quốc A, nên mức án đối với bị cáo phải cao hơn mức án đối với bị cáo A. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
- [3.4] Đối với bị cáo Từ Quốc A: Bị cáo đã cùng với bị cáo Nguyễn Chí T góp tiền để thuê địa điểm và cùng T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần, nên cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội; có ông bà N1 là người có công với cách mạng, nên xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt và xử phạt bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước mà an tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.
- [4] Đối với những đối tượng liên quan:
- Đối với người phụ nữ tên T3 ở thành phố T, tỉnh Phú Yên, là người bán ma túy đá cho Nguyễn Chí T vào ngày 17/6/2023 và 19/6/2023: T3 có tên đầy đủ là Nguyễn Thị Hoài T3 - Sinh năm 1990; cư trú tại A N, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Hiện T3 đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T trong vụ án Mua bán trái phép chất ma túy mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đang thụ lý điều tra. Tra cứu lịch sử cuộc gọi xác định, vào chiều ngày 17/6/2023, số điện thoại của T 0336.110.xxx có phát sinh cuộc gọi đến số điện thoại 0708.108.xxx của T3; Kết quả sao kê tài khoản ví Momo của T và T3 đều thể hiện vào ngày 19/6/2023 T có chuyển khoản cho T3 số tiền 250.000 đồng. Tuy nhiên, lịch sử cuộc gọi và giao dịch qua ví Momo không thể hiện nội dung cuộc gọi và nội dung chuyển tiền. Qua điều tra, T3 không thừa nhận đã bán ma túy đá cho T và hoàn toàn không quen biết T, không kết bạn Zalo với T, không thừa nhận việc giao dịch chuyển tiền ví Momo trong ngày 19/6/2023 là giao dịch bán ma túy cho T. Đồng thời, T không nhận dạng được T3 là người đã bán và người giao ma túy đá cho T vào ngày 17/6/2023 và ngày 19/6/2023. Đến nay, chưa làm rõ được hành vi của đối tượng Nguyễn Thị Hoài T3. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ sẽ tách và thụ lý tin báo đối với hành vi của Nguyễn Thị Hoài T3 để xác minh làm rõ và xử lý sau.
- Đối với Nguyễn Thị Mỹ B2, là chị ruột của bị can Nguyễn Chí T: Vào ngày 19/6/2023, Nguyễn Chí T hỏi mượn chiếc xe mô tô biển số 78K1 - 211.47 do B2 đứng tên chủ sở hữu để đi chơi cùng bạn; T không nói đi đâu, làm gì, việc T sử dụng chiếc xe mô tô trên đi đến nhà nghỉ H để sử dụng ma túy, B2 hoàn toàn không biết. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với B2 là có căn cứ.
- Đối với Lê Thị Hồng B1, là mẹ ruột của Từ Quốc A: Vào ngày 17/6/2023, bị can Từ Quốc A tự ý lấy chiếc xe mô tô biển số 78K1 - 169.17 do Lê Thị Hồng B1 đứng tên chủ sở hữu đi đến nhà Nguyễn Chí T, chở T đến bãi rác thuộc khu phố L, thị trấn L, huyện Đ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; việc Anh sử dụng chiếc xe mô tô trên đi đến địa điểm sử dụng ma túy, bà B1 không biết. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với B1 là có căn cứ.
- Đối với Nguyễn Hoài P: Vào chiều ngày 19/6/2023, P điều khiển xe mô tô mượn của bạn chở A đến nhà của T. Sau khi P chở A đến nhà T thì P đi công việc. Bản thân P không biết việc Anh đến nhà của T để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với P là có căn cứ
- Đối với Ngô Khôi K, là chủ Nhà nghỉ H: Vào ngày 19/6/2023, việc Nguyễn Chí T và Từ Quốc A đến Nhà nghỉ H thuê phòng để Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, K không hề biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với K là có căn cứ.
- Đối với ly thủy tinh chứa đựng 0,658 gam ma túy loại Ketamine thu giữ được dưới chân giường trong phòng 103 của nhà nghỉ H, quá trình điều tra có đủ căn cứ chứng minh số ma túy này không phải của Nguyễn Chí T và Từ Quốc A, không xác định được là của ai nên không có cơ sở để xử lý.
- [5] Về vật chứng vụ án:
- Các dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng ma tuý, những đồ vật thu giữ khác. Đây là những vật chứng có liên quan đến việc phạm tội của các bị cáo, vật cấm lưu hành và những vật không còn giá trị sử dụng, nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS là có cơ sở nên chấp nhận.
- Những chiếc điện thoại các đối tượng dùng để liên lạc mua, tổ chức sử dụng ma tuý, đây là công cụ, phương tiện phạm tội, nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS là có cơ sở nên chấp nhận.
- [6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Chí T, Từ Quốc A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Áp dụng áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Chí T, Từ Quốc A. Riêng bị cáo Từ Quốc A được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Từ Quốc A 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cái bật lửa hiệu Hoa Việt, đã qua sử dụng; 01 (một) cái áo khoác vải màu đen dài tay; 01 (một) chai nhựa trong suốt có nắp đậy màu đỏ; 01 (một) đoạn ống thủy tinh có một đầu hình cầu rỗng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng trong suốt bị biến dạng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng trong suốt dài 3cm; 01 (một) ly thủy tinh trong suốt; 0,587 gram ma túy loại Ketamine (đã được niêm phong).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, đã qua sử dụng (có viền màu đỏ), mặt màn hình điện thoại bị vỡ, nứt của Nguyễn Chí T.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A20s, màu xanh đen, đã qua sử dụng, bị nứt mặt màn hình của Từ Quốc A.
(Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ và Chi cục THADS huyện Đ).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Chí T, Từ Quốc A mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa - TAND tỉnh Phú Yên (P.KT-NV); - VKSND tỉnh Phú Yên; - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên; - VKSND huyện Đồng Xuân; - Công an huyện Đồng Xuân; - CC THADS huyện Đồng Xuân; - Những người tham gia tố tụng; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Vĩnh Long |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG XUÂN, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
