|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 07/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Hường.
- Ông Phan Đình Báu.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài–Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/HSST ngày 14/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 21/5/2024 đối với bị cáo:
Lê T–sinh năm: 1996, tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố G, phường V, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Kim H và bà Nguyễn Thị R (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền sự: Không. Tiền án: Ngày 10/7/2023, bị Toà án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, đang chấp hành án theo Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án số 7854 ngày 11/9/2023 của Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ C1.
Bị cáo Lê T đang chấp hành án tại Trại giam T2-Cục C2-Bộ C1, được trích xuất về xét xử (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng:
- +Ông Nguyễn Quang V –Sinh năm: 1976; Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- +Ông Nguyễn Hoàng L −Sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khu phố F, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- +Ông Đinh Văn H1 –Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt);
- +Ông Mai Thanh V1 –Sinh năm: 1992; Địa chỉ: Khu phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- +Ông Lê Xuân C –Sinh năm: 1977; Địa chỉ: Khu phố E, phường P, Tp P-T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt);
- +Ông Lê Kim H–Sinh năm: 1957; Địa chỉ: Khu phố G, phường V, TP ., tỉnh Ninh Thuận (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, đồng chí Nguyễn Quang V là cán bộ Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện N đến Nhà tạm giữ Công an huyện N để thực hiện nhiệm vụ trực chiến. Lúc này, đồng chí Lê Xuân C là trực ban ca trực ngày 27/01/2024 thấy đồng chí V đến nên đã nhờ mở cửa cho các phạm nhân thực hiện các công việc hàng ngày thì đồng chí V đồng ý và nhận chìa khoá từ đồng chí C vào mở cửa buồng phạm nhân tự giác và mở cửa chính khu giam, giữ. Đến khoảng 06 giờ 50 phút cùng ngày, trong lúc đang quét dọn vệ sinh, nhìn thấy đồng chí V đang mở cửa chính khu vực giam, giữ thì phạm nhân Lê T đã lén lút đi ra ngoài, chạy về hướng kho vật chứng rồi leo qua tường rào bỏ trốn thì đồng chí V và đồng chí C vừa phát hiện nên thông báo cho các đồng chí có mặt tại Nhà tạm giữ Công an huyện tiến hành truy đuổi phạm nhân L, đồng thời báo cáo Lãnh đạo, chỉ huy biết sự việc trên để phân công lực lượng truy bắt. Đến 07 giờ 40 phút cùng ngày Công an huyện N đã bắt quả tang Lê T vừa về đến nhà của mình tại khu phố G, phường V, TP .-T và bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N điều tra xử lý.
Trước đó, Lê T bị Toà án huyện N tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo Bản án số 37 ngày 10/7/2023. Khi Bản án có hiệu lực, ngày 14/8/2023 Toà án huyện N ban hành Quyết định số 08/2023/QĐ-CA uỷ thác thi hành án hình sự cho Toà án TP .-T thi hành án hình sự đối với Lê T. Nhận được Uỷ thác thi hành án hình sự, Toà án TP .-T đã ra Quyết định thi hành án số 180 ngày 21/8/2023. Đến ngày 29/8/2023, Lê T đến Công an T3-T trình diện thi hành án. Ngày 14/9/2023, T được chuyển đến chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện N theo Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án số 7854 ngày 11/9/2023 của Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ C1. Thời gian chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện N là phạm nhân tự giác nên hàng ngày Lê T cùng các phạm nhân khác đang chấp hành án có nhiệm vụ dọn dẹp vệ sinh trong khu vực giam, giữ và chia cơm cho các bị can, bị cáo đang được giam, giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.
Vật chứng: Sự việc xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an N thu giữ 02 chiếc dép nhựa màu đen và 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu sọc trắng xanh xám.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-HS ngày 10/5/2024, Viện kiểm sát huyện N truy tố Lê T về tội “Trốn khỏi nơi giam giữ” theo khoản 1 Điều 386 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Tuyên bố bị cáo Lê T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam giữ”. Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 386; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
Bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện N tại phiên tòa, không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên. Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án: Ngày 14/9/2023, bị cáo được chuyển đến chấp hành án tại Nhà tạm giữ Công an huyện N theo Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án số 7854 ngày 11/9/2023 của Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ C1 để chấp hành hình phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 37 ngày 10/7/2023 của Toà án huyện N, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 28/01/2024, trong lúc đang thực hiện nhiệm vụ dọn dẹp vệ sinh khu vực giam, giữ thì Lê T nhìn thấy cán bộ quản giáo mở cửa chính nên đã lén lút bỏ trốn khỏi Nhà tạm giữ Công an N để về nhà mình tại khu phố G, phường V, TP .-T-Ninh Thuận thì bị cán bộ Nhà tạm giữ Công an N phát hiện truy đuổi, bắt quả tang.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người tham gia tố tụng khác, các bản cung, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả tranh luận tại phiên tòa. HĐXX kết luận bị cáo Lê T đã phạm vào tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”, quy định tại Khoản 1 Điều 386 BLHS, đúng như cáo trạng Viện kiểm sát huyện N truy tố.
Bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự. Bị cáo nhận thức được hành vi “Trốn khỏi nơi giam, giữ” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ giam, giữ cải tạo phạm nhân, đồng thời xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan thi hành án hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả, nhân thân của bị cáo:
Ngày 10/7/2023, bị cáo Lê T bị Toà án huyện N xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, đang chấp hành án theo Quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án số 7854 ngày 11/9/2023 của Cơ quan Quản lý thi hành án hình sự Bộ C1. Đến ngày 28/01/2024, bị cáo tiếp tục phạm tội mới nên xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[5] Tại bản án số 37/2023/HSST ngày 10/7/2023 của Tòa án huyện N-Ninh Thuận xử phạt bị cáo Lê T 02 năm 06 tháng tù giam về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Vì vậy HĐXX quyết định hình phạt của tội đang xét xử và tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án theo quy định tại Điều 56 BLHS.
[6] Vật chứng: 02 chiếc dép nhựa màu đen và 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu sọc trắng-xanh xám, là tài sản của Nhà tạm giữ Công an huyện N cấp cho phạm nhân Lê T trong thời gian chấp hành án, nên trả lại cho N tạm giữ Công an huyện N là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm theo pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 386; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê T phạm tội “Trốn khỏi nơi giam, giữ”.
- Xử phạt: Bị cáo Lê T 12 (mười hai) tháng tù.
- Áp dụng: Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Tổng hợp hình phạt 02 năm 06 tháng tù theo Bản án số 37/2023/HSST ngày 10/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Buộc bị cáo Lê T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/8/2023).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
T1 trả lại cho N tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận:
- +02 (hai) chiếc dép nhựa màu đen, gồm một chiếc bên phải và một chiếc bên trái thuộc cùng một đôi dép, mỗi chiếc có kích thước đế là (28x10)cm, trên đế có chữ “43NM618";
- +01 (một) chiếc áo sơ mi dài tay màu sọc trắng-xanh xám, trên cổ áo có tem hình logo Công an và hiệu “BỘ CÔNG AN ĐƠN VỊ PHÚ SƠN 4-TC8 NĂM 2013”.
Các vật chứng nêu trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận ngày 14/5/2024.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trốn khỏi nơi giam, giữ (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trốn khỏi nơi giam, giữ (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê T. về tội "Trốn khỏi nơi giam giữ” theo khoản 1 Điều 386 BLHS
