|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày 15 - 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý A Hờ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng A Tủa và bà Lìm Thị Nhung.
Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải.
- Đại diện VKSND huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đăng N - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Mùa A L, tên gọi khác: Không; sinh ngày 20/5/1962, tại xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A T và bà Giàng Thị S (Đều đã chết); có vợ là Sùng Thị V, sinh năm 1963; có 09 con (con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2008).
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị L1, sinh năm 1974; Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y, có mặt.
- Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Thào A D; trú tại tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái, có mặt.
Người có quyền lợi liên quan: Anh Mùa A R, sinh năm 1992; Cư trú tại: Bản H, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, tổ công tác Công an xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại Bản T, xã K, huyện M phát hiện Mùa A L, sinh năm 1962, trú tại bản H, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì phát hiện và thu giữ của Mùa A L: 03 cục chất nhựa dẻo màu đen; 01 bao tải màu cam bên trong có nhiều cây thực vật màu xanh ( gồm rễ, thân, lá, quả) trên mỗi quả đều có nhiều vết cứa dọc thân quả; tiền có chữ Ngân hàng N1 410.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RXS, màu đen – trắng, biển kiểm soát 21B1-663.90; 01 điện thoại di động loại bàn phím số; 01 túi vải màu xanh.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét chỗ ở, đồ vật đối với Mùa A L tại bản Háng Cháng Lừ, xã K, huyện M. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ tài liệu, đồ vật gì.
Tại bản Kết luận giám định số: 200/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- 01 gam trích từ chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ khi bắt quả tang Mùa A L có khối lượng 14,7 gam gửi đi giám định là ma túy; loại thuốc phiện.
- 30 gam trích từ quả thực vật xanh (Trên mỗi quả đều có vết cứa dọc thân quả) thu giữ khi bắt quả tang Mùa A L có tổng khối lượng 800 gam gửi đi giám định là quả cây thuốc phiện.
Tại Kết luận giám định số: 205/KL-KTHS ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Số tiền 410.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Mùa A L gửi giám định đều là tiền thật do Ngân hàng N1 phát hành.
Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS-MCC ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Mùa A Lay về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mùa A L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số thuốc phiện và quả cây thuốc còn lại sau giám định; 02 vỏ phong bì, 01 vỏ hộp, ni lon gói sau khi mở niêm phong; 01 túi vải màu xanh, 01 túi vải màu cam, cũ đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo số tiền 410.000đ, 01 chiếc điện thoại và miễn án phí cho bị cáo; trả lại cho Mùa A R 01 chiếc xe mô tô đã bị thu giữ trong vụ án.
Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo L đã thừa nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/4/2024 L2 đi xem nương thảo quả của gia đình tại khu vực giáp ranh với xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái với xã N, huyện V, tỉnh Lào Cai, trên đường về L đã gặp và mua của một người đàn ông, dân tộc Mông, khoảng 50 tuổi, không quen biết 03 cục thuốc phiện và 01 bao tải bên trong có nhiều cây, quả thuốc phiện với giá 600.000đ vận chuyển về nhà cất giấu với mục đích sẽ chia nhỏ số thuốc phiện để bán kiếm lời, còn số cây quả thuốc phiện sẽ ngâm rượu để bán.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải đã truy tố, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện sinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết về pháp luật còn hạn chế; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mùa A L 02 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; trả lại vật chứng tài sản hợp pháp của bị cáo cho bị cáo và miễn toàn bộ án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Mùa A R thừa nhận: Chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 21 B1 – 663.90, tình trạng cũ đã qua sử dụng bị thu giữ trong vụ án là tài sản của anh R, khi bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội anh R không biết nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho anh R.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng, người tham gia tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định. Từ đó đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/4/2024 tại bản Thái, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái Công an xã K đã bắt quả tang Mùa A L cất giữ 14,7 gam nhựa thuốc phiện và 800 gam quả thuốc phiện với mục đích để bán kiếm lời. Như vậy việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố bị cáo Mùa A L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì hám lợi bất chính nên thực hiện hành vi phạm tội; hành vi trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Không; tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo là dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp, hiểu biết xã hội còn nhiều hạn chế; chưa có tiền án, tiền sự. Như vậy bị cáo là người có nhận thân tốt.
[6]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Về xử lý vật chứng và tài sản liên quan đến vụ án:
- Vật chứng là: 13,7 gam thuốc phiện và 770 gam quả thuốc phiện còn lại sau khi giám định; 02 vỏ phong bì, 01 vỏ hộp, ni lon gói sau khi mở niêm phong; 01 túi vải màu xanh, 01 túi vải màu cam, cũ đã qua sử dụng. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần được tịch thu tiêu hủy.
- Vật chứng là: Tổng số tiền 410.000đ; 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của Mùa A L. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được trả lại cho bị cáo.
- Vật chứng là: Chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen – trắng, biển kiểm soát 21 B1 – 663.90, tình trạng cũ đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của Mùa A R, khi R cho bị cáo mượn R không biết bị có sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội nên cần được trả lại cho R là phù hợp.
[9] Các vấn đề liên quan đến vụ án:
- Đối với người bán ma túy cho Mùa A L: Quá trình điều tra bị can không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ để xử lý trong cùng vụ án.
- Đối với 800 gam quả thuốc phiện do không có căn cứ để xác định là quả thuốc phiện tươi hay khô, đồng thời khối lượng đều không thỏa mãn các trường hợp quy định tại các điểm 1, m khoản 2 Điều 251 BLHS nên Cơ quan điều tra đề nghị truy tố đối với bị can theo khoản 1 Điều 251 BLHS là phù hợp.
- Đối với số thân, rễ, lá cây thuốc phiện sau khi cắt toàn bộ quả thuốc phiện để niêm phong Công an xã K đã tiêu hủy số thân, rễ, lá cây này nên không xác định được khối lượng, tuy nhiên do tổng khối lượng của các cây thuốc phiện bao gồm cả quả thuốc phiện là 6,5kg, nên phần khối lượng thân, rễ, lá cây thuốc phiện không thỏa mãn các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 251 BLHS.
[10]. Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Mùa A L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
-
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Mùa A L 02 (H) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 04/4/2024).
-
Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 13,7 gam thuốc phiện còn lại sau khi đã trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Mùa A L - SN: 1962, tại bản Thái, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 03/4/2024” (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Xuân T1 Nguyễn Đức P, Nguyễn Đăng N, Hoàng Hữu Quốc T2, Hà Thị L1 và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y,
- + 770 gam quả thuốc phiện còn lại sau khi đã trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Quả thực vật màu xanh thu giữ khi bắt quả tang Mùa A L – SN 1962, tại bản Thái, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 03/4/2024" (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Đức P, Nguyễn Đăng N, Hoàng Hữu Quốc T2, Hà Thị L1 và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Y.
- + 02 vỏ phong bì, 01 vỏ hộp, nilon gói sau khi mở niêm phong.
- + 01 túi vải màu xanh và 01 bao tải màu cam, cũ đã qua sử dụng.
+ Trả lại cho bị cáo Mùa A L: Số tiền 410.000₫ (Bốn trăm mười nghìn đồng), 410.000 đồng được niêm phong vào 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành. Mặt trước phong bì có ghi: Tiền thu giữ khi bắt quả tang Mùa A L - sinh năm 1962, tại bản Thái, xã K, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 03/4/2024 (sau khi giám định ) và 01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu xanh, mặt trước và mặt sau của điện thoại có chữ Masstel, cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Mùa A R: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu sơn đen - trắng, biển kiểm soát 21 B1-663.90. Tình trạng cũ đã qua sử dụng.
-
Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A L.
-
Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Mùa A L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Anh Mùa A R có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lý A Hờ |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 03/4/2024 tại bản Thái, xã Khao Mang, huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Công an xã Khao Mang đã bắt quả tang Mùa A Lay cất giữ 14,7 gam nhựa thuốc phiện và 800 gam quả thuốc phiện với mục đích để bán kiếm lời
