|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày 13 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Doanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Thái và ông Nguyễn Văn Huyền.
- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Nông Phúc - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/HSST-QĐ ngày 13/5/2024 đối với các bị cáo:
1. Ma Đại T (Tên gọi khác: không), sinh ngày 29 tháng 10 năm 1976 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Đình N và bà Đặng Thị M; có vợ là Trịnh Thị B; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tháng 5/1997, bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000đ về hành vi Gây rối trật tự công cộng; Ngày 11/6/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn phạt 12 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Tháng 12/2001, bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại trung tâm giáo dục xã hội tỉnh B; Ngày 19/11/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 05/02/2004, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Ngày 08/3/2024, bị Giám đốc Công an tỉnh B Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC về hành vi tàng trữ trái phép súng săn, đăng ký kinh doanh và hoạt động kinh doanh cầm đồ, cho vay từ ngày 07/7/2022 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; bị tạm giữ từ ngày 30 tháng 9 năm 2023 đến ngày 09 tháng 10 năm 2023; hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2
2. Trịnh Thị B (Tên gọi khác: không), sinh ngày 10 tháng 01 năm 1988 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T1 và bà Ma Thị T2; có chồng là Ma Đại T; con: Chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982; trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Ma Khánh T4, sinh năm 1983; trú tại: Thôn B, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hoàng Hải H, sinh năm 1984; trú tại: Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1970; trú tại: Thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt; hiện đang chấp hành án tại Trại giam N3, địa chỉ: xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam, vắng mặt.
- Anh Vy Văn H2, sinh năm 1974; trú tại: Thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1977; trú tại: Thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Ma Đình H4, sinh năm 1970; trú tại: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Chu Văn H5, sinh năm 1986; trú tại: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Ngọc Đình V, sinh năm 1991; trú tại: Thôn C, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nông Văn T5, sinh năm 1977; trú tại: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Dương Văn T6, sinh năm 1987; trú tại: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Lý Văn S, sinh năm 1977; trú tại: Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Ông Lục Xuân K, sinh năm 1968; trú tại: Thôn N, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn S1, sinh năm 1974; trú tại: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nông Văn T7, sinh năm 1987; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
3
- Ông Vy Văn L, sinh năm 1964; trú tại: Thôn K, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Triệu Văn K1, sinh năm 1973; trú tại: Thôn N, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hoàng Đình T8, sinh năm 1988; trú tại: Thôn B, xã P, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nông Văn T9, sinh năm 1974; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Vũ Đức N1, sinh năm 1986; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nông Văn D, sinh năm 1989; trú tại: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Ma Đình H6, sinh năm 1990; trú tại: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Q2, địa chỉ: xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Mạch Văn D1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Mã Văn C, sinh năm 1975; trú tại: Thôn B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hứa Tiến T10, sinh năm 1991; trú tại: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Đặng Văn D2, sinh năm 1973; trú tại: Thôn N, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hà Văn T11, sinh năm 1989; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn K2, sinh năm 1976, trú tại: Tổ H, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1979; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hoàng H7, sinh năm 1982; trú tại: Thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Hoàng Phúc Đ, sinh năm 1992; trú tại: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Hiện đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại Tạm giam Công an tỉnh B, vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1981; trú tại: Thôn N, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
- Anh Bàn Văn T12, sinh năm 1991; trú tại: Thôn N, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt.
4
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/7/2017, hộ Ma Đại T được Phòng Tài chính - Kế hoạch, huyện C, tỉnh Bắc Kạn cấp Giấy đăng ký kinh doanh số 13D8002307 ngành nghề kinh doanh: Cho vay - Cầm đồ, địa điểm kinh doanh: tổ A, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Đến khoảng giữa năm 2022, Ma Đại T và Trịnh Thị B (vợ T) mở quán bán nước tại cổng Cơ sở chữa bệnh methadone thuộc Trung tâm y tế huyện C, do thấy có nhiều người uống thuốc methadone có nhu cầu vay tiền nên T và B bàn bạc thống nhất cho những người uống thuốc methadone có nhu cầu vay tiền tại quán nước của mình dưới hình thức người vay phải cầm cố thẻ uống thuốc methadone. Mức vay từ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đến 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), một số trường hợp quen biết thì có thể vay nhiều hơn, nhưng tối đa không quá 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Về tiền lãi, T và B thống nhất thỏa thuận với người vay như sau: Nếu người vay vay từ 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) đến 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) thì lãi suất sẽ thu từ 3.000đ đến 5.000đ một ngày tùy theo từng người và trả lãi theo ngày. Nếu sau một thời gian muốn vay thêm tiền thì mức vay cũng như vậy và lãi xuất thì tính thêm từ 3.000đ đến 5.000đ. Đối với những trường hợp vay trên 1.000.000đ thì lấy lãi là 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày, trả lãi theo ngày. Nếu vay thêm thì tiền lãi sẽ cộng thêm 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày trở lên. Hàng ngày, khi người vay đến uống thuốc thì sẽ vào quán gặp T hoặc B lấy thẻ uống thuốc methadone và trả tiền lãi, sau khi uống xong thì nộp lại thẻ. Do các trường hợp vay tiền đều là người nghiện ma túy và đang điều trị methadone nên không trả lãi đều, T và B thống nhất với họ về tiền lãi hàng ngày có bao nhiêu nộp bấy nhiêu và ngày này bù vào ngày khác. Từ đầu năm 2023, T và B cho người khác vay tiền và thu lãi cao, ai có mặt ở quán hoặc cả hai cùng có mặt ở quán thì sẽ cho vay và thu tiền lãi. Nếu ngày nào T cho vay tiền thì sẽ ghi tiền người vay và tiền lãi ra một tờ giấy, khi về nhà Bé tổng hợp và viết vào sổ. Nhập sổ xong thì sẽ hủy tờ giấy đi. Còn Bé trực tiếp cho vay hoặc thu tiền lãi thì trực tiếp viết vào sổ theo dõi.
Hồi 08 giờ 30 phút 28/9/2023, tổ công tác của Phòng C1 Công an tỉnh B phối hợp cùng chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra tại quán bán nước cổng Cơ sở điều trị Methadone có địa chỉ tại tổ A, thị trấn B, huyện C phát hiện ông Lý Văn S, sinh năm 1977, trú tại thôn N, xã L, huyện C đang đưa số tiền 10.000₫ (Mười nghìn đồng) và thẻ uống thuốc methadone cho Trịnh Thị B, sinh năm 1988, trú tại tổ A, thị trấn B, huyện C. Kiểm tra tại quầy bán nước tổ công tác phát hiện và tạm giữ tiền và tài sản, sổ sách, giấy tờ liên quan đến hoạt động cho vay và 31 thẻ uống thuốc methadone của nhiều người.
Ngoài ra, tại thời điểm kiểm tra còn phát hiện nhiều người uống thuốc methadone đang ngồi uống nước tại quán trong đó có Hoàng Văn H8, sinh năm 1982, trú tại tổ B, thị trấn B, huyện C. Kiểm tra tại chỗ ngồi của H8 phát hiện, tạm giữ 14 thẻ uống thuốc methadone.
5
Qua điều tra đủ căn cứ xác định có 33 (Ba mươi ba) người vay tiền của Ma Đại T và Trịnh Thị B với lãi suất cao vượt mức pháp luật quy định. Cụ thể:
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1982; trú tại thôn T, xã Đ, huyện C. Ngày 05/01/2023, anh T3 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 15.000đ/1.000.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 547,5% (năm trăm bốn mươi bảy phẩy năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 4.127.000đ (bốn triệu, một trăm hai mươi bảy nghìn đồng) trong 267 ngày, thu lời bất chính số tiền 3.980.699₫ (ba triệu, chín trăm tám mươi nghìn sáu trăm chín mươi chín đồng).
- Anh Ma Khánh T4, sinh năm 1983; trú tại thôn B, xã Y, huyện C. Ngày 04/04/2023, anh T4 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/300.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 777.000₫ (Bảy trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) trong 178 ngày, thu lời bất chính số tiền 747.740₫ (Bảy trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm bốn mươi đồng).
- Anh Hoàng Hải H, sinh năm 1984; trú tại thôn N, xã L, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh H vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 6.000đ/600.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 2.261.000₫ (hai triệu, hai trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 2.171.904₫ (hai triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn chín trăm linh tư đồng).
- Anh Nguyễn Hữu H1, sinh năm 1970; trú tại thôn N, xã P, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh H1 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 2.000.000₫ (hai triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 8.000đ/2.000.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 146% (một trăm bốn mươi sáu phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.953.000₫ (một triệu, chín trăm năm mươi ba nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.656.014đ (một triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn không trăm mười bốn đồng).
- Anh Vy Văn H2 (Hoàn C), sinh năm 1974, trú tại thôn N, xã P, huyện C. Ngày 01/01/2023; anh H2 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.509.000đ (một triệu, năm trăm linh chín nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.434.753₫ (một triệu, bốn trăm ba mươi bốn nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
6
- Anh Nguyễn Hữu H3 (H3 sẹo), sinh năm 1977; trú tại thôn N, xã P, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh H3 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.725.000đ (một triệu, bảy trăm hai mươi năm nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.650.753₫ (Một triệu, sáu trăm năm mươi nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
- Anh Ma Đình H4, sinh năm 1970; trú tại thôn B, xã L, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh H4 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 182,5% (một trăm tám mươi hai phẩy năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 2.220.000đ (hai triệu, hai trăm hai mươi nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 2.071.753₫ (hai triệu, không trăm bảy mươi mốt nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
- Anh Chu Văn H5 tên gọi khác là (L2), sinh năm 1986; trú tại thôn B, xã L, huyện C. Ngày 30/3/2023, anh H5 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 219% (hai trăm mười chín phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) trong 182 ngày, thu lời bất chính số tiền 200.137₫ (hai trăm nghìn, một trăm ba mươi bảy đồng).
- Anh Ngọc Đình V, sinh năm 1991; trú tại thôn C, xã N, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh V vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 15.000đ/3.000.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 182,5% (một trăm tám mươi hai phẩy năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 3.815.000đ (ba triệu, tám trăm mười năm nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 3.369.521₫ (ba triệu, ba trăm sáu mươi chín nghìn, năm trăm hai mốt đồng).
- Anh Nông Văn T5, sinh năm 1977; trú tại thôn N, xã Y, huyện C. Ngày 03/01/2023, anh T5 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 400.000₫ (bốn trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/400.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 273,8% (hai trăm bảy mươi ba phẩy tám phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.306.000đ (một triệu, ba trăm linh sáu nghìn đồng) trong 269 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.247.041đ (một triệu, hai trăm bốn mươi bảy nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng).
- Anh Dương Văn T6, sinh năm 1987; trú tại thôn B, xã P, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh T6 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 4.000đ/200.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 730% (bảy trăm ba mươi phần trăm) trên
7
- 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.048.000₫ (một triệu, không trăm bốn tám nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.018.301₫ (một triệu, không trăm mười tám nghìn, ba trăm linh một đồng).
- Anh Lý Văn S, sinh năm 1977; trú tại thôn N, xã L, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh S vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 4.000đ/300.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 486.7% (bốn trăm tám mươi sáu phẩy bảy phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.212.000đ (một triệu, hai trăm mười hai nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.167.452₫ (một triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, bốn trăm năm mươi hai đồng).
- Ông Lục Xuân K, sinh năm 1968; trú tại thôn N, xã P, huyện C. Ngày 02/01/2023, ông K vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 8.500đ/1.500.000/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 206,8% (hai trăm linh sáu phẩy tám phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 3.206.000đ (ba triệu, hai trăm linh sáu nghìn đồng) trong 270 ngày, thu lời bất chính số tiền 2.984.082đ (hai triệu, chín trăm tám mươi tư nghìn, không trăm tám mươi hai đồng).
- Anh Hoàng Văn S1, sinh năm 1974; trú tại Bản K, xã B, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh S1 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 10.000đ/1 triệu/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 2.879.000₫ (hai triệu, tám trăm bảy chín nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 2.730.507₫ (hai triệu, bảy trăm ba mươi nghìn, năm trăm linh bảy đồng).
- Anh Nông Văn T7, sinh năm 1987; trú tại thôn N, xã Đ, huyện C. Ngày 01/04/2023, anh T7 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/300.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 935.000đ (chín trăm ba năm nghìn đồng) trong 181 ngày, thu lời bất chính số tiền 905.247₫ (chín trăm linh năm nghìn, hai trăm bốn mươi bảy đồng).
- Ông Vy Văn L, sinh năm 1964; trú tại thôn K, xã Đ, huyện C. Ngày 14/02/2023, ông L vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 219% (hai trăm mười chín phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 31/7/2023, T và B thu được tiền lãi là 726.000₫ (bảy trăm hai mươi sáu nghìn đồng) trong 168 ngày, thu lời bất chính số tiền 679.973₫ (sáu trăm bảy mươi chín nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng).
- Anh Triệu Văn K1, sinh năm 1973; trú tại thôn N, xã L, huyện C. Ngày 05/01/2023, anh K1 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 400.000₫
8
- (bốn trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/400.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 273,8% (hai trăm bảy mươi ba phẩy tám phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 580.000₫ (năm trăm tám mươi nghìn đồng) trong 267 ngày, thu lời bất chính số tiền 521.479₫ (năm trăm hai mươi mốt nghìn, bốn trăm bảy chín đồng).
- Anh Hoàng Đình T8, sinh năm 1988; trú tại thôn B, xã P, huyện C. Ngày 05/01/2023, anh T8 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 4.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 292% (hai trăm chín mươi hai phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.114.000đ (một triệu, một trăm mười bốn nghìn đồng) trong 267 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.040.849₫ (một triệu, không trăm bốn mươi nghìn, tám trăm bốn chín đồng).
- Anh Nông Văn T9, sinh năm 1974; trú tại thôn N, xã Đ, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh T9 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.653.000đ (một triệu, sáu trăm năm mươi ba nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.578.753₫ (một triệu, năm trăm bảy mươi tám nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
- Anh Vũ Đức N1, sinh năm 1986; trú tại thôn N, xã Đ, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh N1 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023 T và B thu được tiền lãi là 1.731.000đ (một triệu, bảy trăm ba mươi mốt nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.656.753₫ (một triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
- Anh Nông Văn D, sinh năm 1989; trú tại thôn N, xã N, huyện C. Ngày 07/01/2023, anh D vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.600.000đ (một triệu, sáu trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 10.000đ/1.600.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 228,1% (hai trăm hai mươi tám phảy một phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 3.306.000đ (ba triệu, ba trăm linh sáu nghìn đồng) trong 265 ngày, thu lời bất chính số tiền 3.073.671₫ (ba triệu, không trăm bảy mươi ba nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng).
- Anh Ma Đình H6 (tên gọi khác là L3) sinh năm 1990; trú tại thôn N, xã Y, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh H6 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.500.000₫ (một triệu, năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 8.000đ/1.500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 194,7% (một trăm chín mươi tư phảy bảy phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.746.000đ (một triệu, bảy trăm bốn
9
- mươi sáu nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.523.260đ (Một triệu, năm trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm sáu mươi đồng).
- Anh Mạch Văn D1, sinh năm 1985; trú tại thôn N, xã B, huyện C. Ngày 03/01/2023, anh D1 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 2.000.000₫ (hai triệu đồng), thỏa thuận lãi suất 10.000đ/2.000.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 182,5% (một trăm tám mươi hai phẩy năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 3.515.000đ (ba triệu, năm trăm mười năm nghìn đồng) trong 269 ngày, thu lời bất chính số tiền 3.220.205₫ (ba triệu, hai trăm hai mươi nghìn, hai trăm linh năm đồng).
- Anh Mã Văn C, sinh năm 1975; trú tại thôn B, thị trấn B, huyện C. Ngày 08/01/2023, anh C vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.500.000₫ (một triệu, năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 12.000đ/1.500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 264% (hai trăm sáu mươi tư phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 3.240.000đ (ba triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng) trong 264 ngày, thu lời bất chính số tiền 3.023.014đ (ba triệu, không trăm hai ba nghìn, không trăm mười bốn đồng).
- Anh Hứa Tiến T10, sinh năm 1991; trú tại thôn N, xã N, huyện C. Ngày 01/01/2023, anh T10 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 4.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 292% (hai trăm chín mươi hai phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.281.000đ (một triệu, hai trăm tám mươi mốt nghìn đồng) trong 271 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.206.753₫ (một triệu, hai trăm không sáu nghìn, bảy trăm năm mươi ba đồng).
- Anh Đặng Văn D2, sinh năm 1973; trú tại thôn N, thị trấn B, huyện C. Ngày 07/03/2023, anh D2 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/200.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 547,5% (năm trăm bốn mươi bảy phẩy năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 360.000đ (ba trăm sáu mươi nghìn đồng) trong 206 ngày, thu lời bất chính số tiền 337.425đ (ba trăm ba mươi bảy nghìn, bốn trăm hai mươi lăm đồng).
- Anh Hà Văn T11, sinh năm 1989; trú tại thôn N, xã Đ, huyện C. Ngày 03/01/2023, anh T11 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/450.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 243,3% (hai trăm bốn mươi ba phẩy ba phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 873.000đ (tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng) trong 269 ngày, thu lời bất chính số tiền 806.671đ (tám trăm linh sáu nghìn, sáu trăm bảy mươi mốt đồng).
10
- Anh Hoàng Văn K2, sinh năm 1976; trú tại tổ H, thị trấn B, huyện C. Ngày 25/02/2023, anh K2 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/600.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 304,2% (ba trăm linh tư phẩy hai phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 1.444.000đ (một triệu, bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) trong 216 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.372.986đ (một triệu, ba trăm bảy hai nghìn, chín trăm tám mươi sáu đồng).
- Anh Nguyễn Hoàng L1 (tên gọi khác là: D3), sinh năm 1979; trú tại thôn N, xã Đ, huyện C. Ngày 02/01/2023, anh L1 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 5.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu mươi năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 2.056.000đ (hai triệu, không trăm năm mươi sáu nghìn đồng) trong 270 ngày, thu lời bất chính số tiền 1.982.027₫ (một triệu, chín trăm tám mươi hai nghìn, không trăm hai mươi bảy đồng).
- Anh Nguyễn Hoàng H7, sinh năm 1982; trú tại thôn N, xã Đ, huyện C. Ngày 09/5/2023, anh H7 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 3.000đ/500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 219% (hai trăm mười chín phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 566.000đ (năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) trong 142 ngày, thu lời bất chính số tiền 527.096₫ (năm trăm hai mươi bảy nghìn, không trăm chín mươi sáu đồng).
- Anh Bàn Văn T12, sinh năm 1991; trú tại thôn N, xã N, huyện C. Ngày 14/8/2023, anh T12 vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 400.000₫ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 4.000đ/400.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023,T và B thu được tiền lãi là 218.000₫ (hai trăm mười tám nghìn đồng) trong 45 ngày, thu lời bất chính số tiền 208.137₫ (hai trăm linh tám nghìn, một trăm ba mươi bảy đồng).
- Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1991; trú tại thôn N, xã N, huyện C. Ngày 14/8/2023, anh Q vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 400.000đ (năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 4.000đ/400.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi là 161.000₫ (một trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) trong 45 ngày, thu lời bất chính số tiền 151.137₫ (một trăm năm mốt nghìn, một trăm ba mươi bảy đồng).
- Anh Hoàng Phúc Đ, sinh năm 1992; trú tại thôn B, xã L, huyện C. Ngày 19/8/2023, anh Đ vay của Ma Đại T và Trịnh Thị B số tiền 1.500.000₫ (một triệu, năm trăm nghìn đồng), thỏa thuận lãi suất 15.000đ/1.500.000đ/1 ngày và thống nhất thu lãi theo ngày, tương đương lãi suất 365% (ba trăm sáu năm phần trăm) trên 1 năm. Tính đến ngày 28/09/2023, T và B thu được tiền lãi
11
- là 358.000đ (ba trăm năm tám nghìn đồng) trong 41 ngày, thu lời bất chính số tiền 324.301₫ (ba trăm hai tư nghìn, ba trăm linh một đồng).
Tổng số tiền Ma Đại T và Trịnh Thị B cho 33 người vay là 27.150.000₫ (hai mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng) với mức lãi suất dao động người chịu lãi suất thấp nhất là 146% trên năm và người chịu lãi suất cao nhất là 730% trên năm. Tổng số tiền lãi đã thu của người vay là 54.151.000đ (năm mươi tư triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn đồng), trong đó số tiền Ma Đại T và Trịnh Thị B thu lợi bất chính là 50.568.616đ (năm mươi triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm mười sáu đồng). Đến thời điểm xét xử, 07 (bảy) người vay đã tiền nợ gốc cho bị cáo gồm ông Vy Văn L 500.000đ (năm trăm nghìn đồng); anh Ma Khánh T4 300.000đ (ba trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Hữu H1 2.000.000 (hai triệu đồng); anh Ngọc Đình V 3.000.000đ (ba triệu đồng); anh Đặng Văn D2 đã trả một phần nợ gốc với số tiền 100.000₫ (một trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Hoàng H7 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Hoàng L1 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Còn lại 26 người vay chưa trả tiền nợ gốc. Tổng số nợ gốc chưa trả là 20.250.000₫ (hai mươi triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Đối với 02 khẩu súng (dạng súng hơi), 04 hộp nhựa đựng các hạt kim loại hình nấm, đầu đạn thu giữ khi khám xét. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định số 7284/KL-KTHS, ngày 02 tháng 11 năm 2023 của V2 Bộ C2 kết luận:
- - 01 khẩu súng màu đen dài 54cm gửi giám định là súng hơi, cỡ nòng 5,5mm và 01 khẩu súng màu đen dài 88cm gửi giám định là súng hơi cỡ nòng 6,35mm. 02 khẩu súng trên thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
- - Các mẫu kim loại gửi giám định là đạn hình trụ cỡ 5,5mm, đạn hình nấm cỡ 5,5mm và 6,35mm, thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng.
- - Khi sử dụng 02 khẩu súng và đạn gửi giám định bắn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.
Quá trình giải quyết vụ án thấy lời khai giữa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn mâu thuẫn về thời điểm vay, lãi suất cho vay nên Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tiến hành đối chất giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các bị cáo, cung cấp thêm các tài liệu, chứng cứ. Tại văn bản số 151/CV-VKS-P1 ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã bổ sung các biên bản đối chất giữa các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như tài liệu kèm theo.
Tại Bản cáo trạng số 10/CT-VKS-P1 ngày 01/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố Ma Đại T và Trịnh Thị B về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Đại T và Trịnh Thị B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
12
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo T từ 60.000.000₫ đến 70.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo B từ 50.000.000₫ đến 60.000.000 đông.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng và nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật
Tại phiên tòa, các bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo ở mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở khẳng định:
Từ tháng 01/2023 đến ngày 28/9/2023, Ma Đại T và Trịnh Thị B đã cho 33 người nghiện chất ma túy vay tiền với mức lãi suất từ 146% đến 730% trên năm, hình thức là người vay phải cầm cố thẻ uống M1 và trả tiền lãi theo ngày. Tổng số tiền gốc cho vay là 27.150.000đ (hai mươi bảy triệu, một trăm năm mươi nghìn đồng), tổng số tiền lãi đã thu là 54.151.000₫ (năm mươi tư triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn đồng), số tiền lãi thu lợi bất chính là 50.568.616₫ (năm mươi triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
Hành vi của các bị cáo cho vay tiền với mức lãi suất cao gấp hơn 05 lần so với mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự và thu lợi bất chính số tiền 50.568.616đ, đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy
13
định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, xét tính chất, vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo có vai trò như nhau trong vụ án.
[3] Xét tính chất, hành vi các bị cáo thực hiện nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, gây dư luận xấu trong nhân dân và làm ảnh hưởng tới an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được việc cho vay lãi nặng là trái quy định của pháp luật và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần có mức hình phạt phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:
[4.1] Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân xấu; đã từng nhiều lần bị kết án và bị xử phạt hành chính. Bị cáo B có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[4.2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ:
- - Đối với bị cáo Ma Đại T: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo bố đẻ là ông Ma Đình N2 được tặng huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Đối với bị cáo Trịnh Thị B: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo có thai khi phạm tội, có bố chồng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
[5.1] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, các bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B đều phạm tội với vai trò là người thực hành, sử dụng tài sản chung làm công cụ phạm tội, cùng tham gia vào quá trình giao dịch, thu tiền gốc lãi. Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Ma Đại T và Trịnh Thị B. Mức hình phạt và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội và đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[5.1] Về hình phạt bổ sung:
14
Do hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ thường phát sinh tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm các bị cáo kinh doanh dịch vụ cầm đồ trong thời hạn nhất định.
[6] Về biện pháp tư pháp:
[6.1] Đối với số tiền gốc của khoản vay, xác định đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước. Do đó, khoản tiền gốc đã được người liên quan trả cho các bị cáo thì các bị cáo phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách. Khoản tiền gốc người liên quan nào chưa trả cho bị cáo thì cần buộc người liên quan đó phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách Nhà nước, cụ thể:
- - Bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B phải có trách nhiệm nộp lại số tiền gốc là 6.900.000₫ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng) do đã được những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trả cho các bị cáo.
- - Buộc 27 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền gốc 20.250.000đ (hai mươi triệu, hai trăm năm mươi nghìn đồng).
[6.2] Đối với số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 3.582.384đ (ba triệu, năm trăm tám mươi hai nghìn ba trăm tám mươi tư đồng) mà các bị cáo thu của những người đi vay. Đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm. Do đó Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ Nhà nước khoản tiền này.
[6.3] Đối với số tiền lãi mà các bị cáo đã thu cao hơn quy định của Bộ luật dân sự. Đây là khoản thu lợi bất chính cần buộc các bị cáo phải trả lại cho những người đi vay.
[7] Về xử lý vật chứng:
* Vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra:
- - Đối với 01 (một) hòm tôn màu trắng các bị cáo dùng để đựng tài liệu, sổ sách liên quan đến việc cho vay lãi nặng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) quyển sổ màu đen mặt trước có chữ “CLASSIC, CC-100” bên trong có nhiều chữ và số; 07 (bảy) mảnh giấy trên mặt đều có nhiều chữ viết, chữ số viết tay; 01 (một) mảnh giấy, một mặt có nhiều chữ in có dòng chữ “PHIẾU THU”, một mặt có nhiều chữ, số viết tay không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên các bị cáo không yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77S; số imei 1: 866451064957077; số imei 2: 866451064957069, gắn số thuê bao: 0386.895.895; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A95; số imei 1: 862823050117391; số imei 2: 862823050117383, gắn số thuê bao: 0386.744.633; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu “Masstel”, màu vàng, bàn phím số đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại màn hình cảm ứng màu đen,
15
- mặt sau có chữ “SAMSUNG” có sử dụng ốp ngoài màu xanh, đã qua sử dụng; 02 (Hai) điện thoại màn hình cảm ứng màu hồng, mặt sau có dòng chữ “OPPO"; 01 (một) máy tính sách tay nhãn hiệu LENOVO, màu đen, trên mặt có chữ “ThinkPad”, đã qua sử dụng; 01 (một) máy tính bảng màn hình cảm ứng, màu xanh, mặt sau có chữ “SAMSUNG”, đã qua sử dụng không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Lục Xuân K cần trả lại cho anh Lục Xuân K.
- - Đối với 31 (ba mươi mốt) thẻ uống thuốc methadone. Trung tâm y tế huyện C xác định số thẻ trên thời gian cấp đã lâu, một số thẻ bị mờ, không rõ thông tin, một số thẻ đã không sử dụng được nên không đề nghị lấy lại. Do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 3.714.000đ (ba triệu bảy trăm mười bốn nghìn đồng) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.
* Vật chứng được đánh bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án:
- + 01 (một) quyển sổ bìa màu đỏ mặt trước có dòng chữ “THE EMOTION NB00009”, “HAPPY VALENTINE'S DAY”.
- + 01 (một) quyển sổ có dòng chữ “NHA TRANG KHÁNH HÒA”, gồm 18 trang, trong sổ có nhiều chữ viết, chữ số viết tay.
- + 01 (một) quyển sổ có dòng chữ “K.POP NOTEBOOK” gồm 50 trang, trong sổ có nhiều chữ viết, chữ số viết tay.
- + 01 (một) mảnh giấy có nhiều chữ số, chữ viết, ghi ngày 05,06/8/2023.
*Quá trình điều tra xác định các đồ vật, tài liệu không liên quan đến hành vi phạm tội, cơ quan điều tra đã xử lý như sau:
Đồ vật, tài liệu trả cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:
- + Trả lại cho ông Triệu Văn K3, sinh năm 1981, trú tại: thôn B, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) chứng minh thư nhân dân số [...]; mang tên Triệu Văn K3; sinh ngày 25/3/2023; địa chỉ xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; cấp ngày 26/12/2015; 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên ông Triệu Văn K3 và bà Triệu Thị V1; số BQ738591; cấp ngày 27/9/2013; 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Triệu Văn K3.
- + Trả lại cho bà Lường Thị T13, sinh năm 1976, trú tại thôn N, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên ông Nguyễn Văn T14 và bà Lường Thị T13; số BN966489; cấp ngày 27/12/2012.
- + Trả lại cho bà Đặng Thị H9, sinh năm 1973; trú tại thôn P, B, Chợ Đ, Bắc Kạn: 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy do Công an tỉnh B cấp số: 004870; biển số đăng ký 97B1-447.83.
16
- + Trả lại cho ông Triệu Văn T15, sinh ngày 29/4/1986, trú tại: thôn N, thị trấn B, Chợ Đ, Bắc Kạn: 01 (một) chứng minh thư nhân dân số [...]; cấp ngày 03/9/2019.
- + Trả lại cho ông Nguyễn Ngọc K4, sinh năm 1973, trú tại thôn K, Đ, Chợ Đ, Bắc Kạn: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 97014824; cấp ngày 01/10/2021; BKS: 97B1-020.00.
- + Trả lại cho ông Triệu Trần T16, sinh năm 1995, trú tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn: 01 (một) giấy phép lái xe số [...], 01 (một) căn cước công dân số [...].
Đồ vật, tài liệu không liên quan đến vụ án, chuyển đến phòng C1 Công an tỉnh B. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC ngày 08/3/2024 của Giám đốc Công an tỉnh B đã quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, gồm:
- + 01 (một) khẩu súng màu đen, báng súng rời kèm theo ống ngắm ký hiệu “FXairguns”; Báng súng có chiều dài 25cm; Thân súng có chiều dài 54cm; Ống ngắm có chiều dài 32cm.
- + 01 (một) khẩu súng màu đen, báng liền, tay cầm bằng gỗ màu nâu, nhãn hiệu “AIRPORCE 2305 made in USA”; Toàn bộ súng có chiều dài 88cm (bao gồm cả ống giảm thanh); Báng súng bằng gỗ có chiều dài 38cm; Ống ngắm có chiều dài 31,5cm; Ống hơi dài 25cm.
- + 03 (hộp) hộp nhựa màu vàng trong đó: 02 (hai) hộp trên mặt hộp có ký hiệu được viết bằng mực xanh đen “635”, “52L”. Bên trong 03 (ba) hộp có các hạt kim loại hình nấm; 01(một) hộp nhựa trong suốt có dán tem có dòng chữ “MỰC HẤP CỐT DỪA”; “CƠ SỞ SẢN XUẤT: HTX OCOP BẮC KẠN”, bên trong có các hạt kim loại hình đầu đạn.
Đồ vật, tài liệu không liên quan đến vụ án, chuyển đến phòng C1 Công an tỉnh B để xử lý theo quy định gồm:
- + Số tiền 6.825.000đ (sáu triệu tám trăm hai mươi năm nghìn đồng) tạm giữ của Hoàng Văn H8.
- + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau có dòng chữ Iphone S; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau có dòng chữ Samsung tạm giữ của Hoàng Văn H8.
- + 01 (một) ví giả da màu nâu của Hoàng Văn H8.
- + 01 (một) Căn cước công dân số [...], mang tên Hoàng Văn H8, cấp ngày 25/9/2023.
- + 01 (một) thẻ ngân hàng B1 số: 970418004613386, mang tên Hoàng Văn H8.
- + 02 (hai) thẻ ngân hàng A số: 9704051096757169; 9704050707212937 mang tên Hoàng Văn H8.
17
- + 01 (một) quyển sổ màu nâu có dòng chữ “Helping Families; 01 (một) quyển sổ bìa xanh, trắng trên mặt bìa có dòng chữ “Campus”; 01 (một) quyển sổ màu xanh lá cây, mặt bìa có dòng chữ “Campus” của Hoàng Văn H8.
- + 14 (Mười bốn) thẻ uống thuốc methadone.
- + 01 (một) giấy vay tiền của anh Nông Văn T17, sinh ngày 02/9/1985; HKTT: Nà Lọc, Bằng lãng, Chợ Đ, Bắc Kạn ngày 18/01/2023 vay anh Ma Đại T 10.000.000đ không ghi lãi suất.
- + 01 (một) Căn cước công dân số [...]; mang tên Nông Văn D; sinh ngày 27/10/1975; địa chỉ Bản C, Đ, Chợ Đ, Bắc Kạn; cấp này 30/6/2022.
- + 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy do Công an tỉnh B cấp số: 0020498 mang tên Phan Sỹ Q1; địa chỉ tổ T, Bằng L, Chợ Đ, Bắc Kạn; biển số đăng ký 97F6-4306.
Xét thấy việc xử lý vật chứng của cơ quan điều tra là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[9] Quá trình điều tra xác định Hoàng Văn Hiếu sinh năm 1982 trú tại tổ B, thị trấn B, huyện C, có cho 14 người nghiện khác vay tiền với tổng số là 10.400.000đ (mười triệu, bốn trăm nghìn đồng) và thu được số tiền lãi 425.000₫ (bốn trăm hai mươi lăm nghìn) tại khu vực quán nước của Ma Đại T, nhưng H8 thực hiện một mình, không đồng phạm với Ma Đại T và Trịnh Thị B. Số tiền thu lợi bất chính dưới 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và không có tình tiết định tội khác. Do đó Cơ quan điều tra tách ra chuyển Phòng C1 Công an tỉnh B xử lý là đúng quy định pháp luật.
[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Ma Đại T và bị cáo Trịnh Thị B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo Ma Đại T 60.000.000 (sáu mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật hình sự. Phạt tiền bị cáo Trịnh Thị B 50.000.000 (năm mươi triệu đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
-
Hình phạt bổ sung:
Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự. Cấm các bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B kinh doanh dịch vụ cầm đồ trong thời hạn 03 (ba) năm.
- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự
18
-
[3.1]. Buộc các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp lại ngân sách Nhà nước số tiền gốc của khoản vay, cụ thể:
- - Bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B phải có trách nhiệm nộp lại số tiền gốc là 6.900.000₫ (sáu triệu chín trăm nghìn đồng), trong đó mỗi bị cáo phải nộp 3.450.000đ (ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) do đã được người liên quan là ông Vy Văn L, Ma Khánh T4, Nguyễn Hữu H1, Ngọc Đình V, Đặng Văn D2, Nguyễn Hoàng H7, Nguyễn Hoàng L1 trả cho các bị cáo.
- - Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền gốc như sau:
- + Anh Nguyễn Văn T3: 1.000.000đ (một triệu đồng)
- + Anh Hoàng Hải H: 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng)
- + Anh Vy Văn H2 (H11): 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Nguyễn Hữu H3 (H3 sẹo): 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Ma Đình H4: 1.000.000đ (một triệu đồng).
- + Anh Chu Văn H5 tên gọi khác là (L2): 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Nông Văn T5: 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).
- + Anh Dương Văn T6: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- + Anh Lý Văn S: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- + Ông Lục Xuân K: 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Hoàng Văn S1: 1.000.000₫ (một triệu đồng).
- + Anh Nông Văn T7: 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
- + Anh Triệu Văn K1: 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).
- + Anh Hoàng Đình T8: 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Nông Văn T9: 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Vũ Đức N1: 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Nông Văn D: 1.600.000đ (một triệu, sáu trăm nghìn đồng).
- + Anh Ma Đình H6 (tên gọi khác là L3): 1.500.000đ (một triệu, năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Mạch Văn D1: 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- + Anh Mã Văn C: 1.500.000đ (một triệu, năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Hứa Tiến T10: 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Đặng Văn D2: 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
- + Anh Hà Văn T11: 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
- + Anh Hoàng Văn K2: 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng).
19
- + Anh Bàn Văn T12: 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng).
- + Anh Hoàng Văn Q: 400.000đ (năm trăm nghìn đồng).
- + Anh Hoàng Phúc Đ: 1.500.000đ (một triệu, năm trăm nghìn đồng).
- [3.2]. Buộc các bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền lãi suất 20% theo quy định là 3.582.384đ (ba triệu, năm trăm tám mươi hai nghìn ba trăm tám mươi tư đồng). Cụ thể: Mỗi bị cáo phải nộp 1.791.192đ (một triệu bảy trăm chí mươi mốt nghìn một trăm chín hai đồng).
-
[3.3]. Buộc các bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính là 50.568.616đ (năm mươi triệu, năm trăm sáu mươi tám nghìn, sáu trăm mười sáu đồng), cụ thể:
- + Đối với anh Nguyễn Văn T3: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nguyễn Văn T3: 1.990.349,5đ (một triệu, chín trăm chín mươi nghìn, ba trăm bốn mươi chín phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Nguyễn Văn T3: 1.990.349,5đ (một triệu, chín trăm chín mươi nghìn, ba trăm bốn mươi chín nghìn năm đồng)
- + Đối với anh Ma Khánh T4: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Ma Khánh T4: 373.870đ (ba trăm bảy mươi ba nghìn, tám tăm bảy mươi đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Ma Khánh T4: 373.870 đ (ba trăm bảy mươi ba nghìn, tám tăm bảy mươi đồng)
- + Đối với anh Hoàng Hải H: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hoàng Hải H: 1.085.952₫ (một triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, chín trăm năm mươi hai đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hoàng Hải H: 1.085.952 đ (một triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, chín trăm năm mươi hai đồng)
- + Đối với anh Nguyễn Hữu H1: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nguyễn Hữu H1: 828.007đ (tám trăm hai mươi tám nghìn, không trăm linh bảy đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả phải trả anh Nguyễn Hữu H1: 828.007 đ (tám trăm hai mươi tám nghìn, không trăm linh bảy đồng).
- + Đối với anh Vy Văn H2 (Hoàn C): Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Vy Văn H2: 717.376,5đ (bảy trăm mười bảy nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả phải trả anh Vy Văn H2: 717.376,5đ (bảy trăm mười bảy nghìn, ba trăm bảy mươi sáu nghìn năm đồng)
- + Đối với anh Nguyễn Hữu H3 (H3 sẹo): Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nguyễn Hữu H3: 825.376,5đ (tám trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm bảy mươi sáu nghìn năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả phải trả anh anh Nguyễn Hữu H3: 825.376,5đ (tám trăm hai mươi lăm nghìn, ba trăm bảy mươi sáu nghìn năm đồng)
- + Đối với anh Ma Đình H4: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Ma Đình H4: 1.035.876,5đ (một triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, tám trăm bảy mươi sáu, phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả phải trả anh Ma Đình H4: 1.035.876,5₫ (một triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, tám trăm bảy mươi sáu, phẩy năm đồng).
20
- + Đối với anh Chu Văn H5 (tên gọi khác: L2): Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Chu Văn H5: 100.068,5đ (một trăm nghìn không trăm sáu mươi tám phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả phải trả anh Chu Văn H5: 100.068,5đ (một trăm nghìn không trăm sáu mươi tám phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Ngọc Đình V: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Ngọc Đình V: 1.684.760,5đ (một triệu, sáu trăm tám mươi tư nghìn, bảy trăm sáu mươi phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Ngọc Đình V: 1.684.760,5đ (một triệu, sáu trăm tám mươi tư nghìn, bảy trăm sáu mươi phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Nông Văn T5: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nông Văn T5: 623.520,5đ (sáu trăm hai mươi ba nghìn, năm trăm hai mươi phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh anh Nông Văn T5: 623.520,5đ (sáu trăm hai mươi ba nghìn, năm trăm hai mươi phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Dương Văn T6: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Dương Văn T6: 509.150,5đ (năm trăm linh chín nghìn, một trăm năm mươi phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Dương Văn T6: 509.150,5đ (năm trăm linh chín nghìn, một trăm năm mươi phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Lý Văn S: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Lý Văn S: 583.726đ (năm trăm tám mươi ba nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Lý Văn S: 583.726đ (năm trăm tám mươi ba nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng).
- + Đối với ông Lục Xuân K: Bị cáo Ma Đại T phải trả ông Lục Xuân K 1.492.041đ (một triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả ông Lục Xuân K 1.492.041đ (một triệu, bốn trăm chín mươi hai nghìn, không trăm bốn mươi mốt đồng)
- + Đối với anh Hoàng Văn S1: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hoàng Văn S1 1.365.253,5đ (một triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm năm mươi ba phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hoàng Văn S1 1.365.253,5đ (một triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, hai trăm năm mươi ba phẩy năm đồng).
- + Đối với anh Nông Văn T7: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nông Văn T7 452.623,5đ (bốn trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm hai mươi ba phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Nông Văn T7 452.623,5đ (bốn trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm hai mươi ba phẩy năm đồng).
- + Đối với ông Vy Văn L: Bị cáo Ma Đại T phải trả ông Vi Văn L4 339.986,5đ (ba trăm ba mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi sáu phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả ông Vi Văn L4 339.986,5đ (ba trăm ba mươi chín nghìn, chín trăm tám mươi sáu phẩy năm đồng).
- + Đối với anh Triệu Văn K1: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Triệu Văn K1 260.739,5đ (hai trăm sáu mươi nghìn, bảy trăm ba mươi chín phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Triệu Văn K1 260.739,5đ (hai trăm sáu mươi nghìn, bảy trăm ba mươi chín phẩy năm đồng)
21
- + Đối với anh Hoàng Đình T8: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hoàng Đình Trịnh 5 (năm trăm hai mươi nghìn, bốn trăm hai mươi tư phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hoàng Đình Trịnh 5 (năm trăm hai mươi nghìn, bốn trăm hai mươi tư phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Nông Văn T9: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nông Văn T9 789.376,5đ (bảy trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Nông Văn T9 789.376,5đ (bảy trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Vũ Đức N1: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Vũ Đức N1 828.376,5đ (tám trăm hai mươi tám nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Vũ Đức N1 828.376,5đ (tám trăm hai mươi tám nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Nông Văn D: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nông Văn D 1.536.835,5đ (một triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, tám trăm ba mươi lăm phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Nông Văn D 1.536.835,5đ (một triệu, năm trăm ba mươi sáu nghìn, tám trăm ba mươi lăm phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Ma Đình H6 (tên gọi khác là L3): Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Ma Đình H6 761.630₫ (bảy trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm ba mươi đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Ma Đình H6 761.630đ (bảy trăm sáu mươi mốt nghìn, sáu trăm ba mươi đồng).
- + Đối với anh Mạch Văn D1: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Mạch Văn D1 1.610.102,5đ (một triệu, sáu trăm mười nghìn, một trăm linh hai phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Mạch Văn D1 1.610.102,5đ (một triệu, sáu trăm mười nghìn, một trăm linh hai phẩy năm đồng).
- + Đối với anh Mã Văn C: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Mã Văn C 1.511.507đ (một triệu, năm trăm mười một nghìn, năm trăm linh bảy đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Mã Văn C 1.511.507₫ (một triệu, năm trăm mười một nghìn, năm trăm linh bảy đồng).
- + Đối với anh Hứa Tiến T10: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hứa Tiến T10 603.376,5đ (sáu trăm linh ba nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hứa Tiến T10 603.376,5đ (sáu trăm linh ba nghìn, ba trăm bảy mươi sáu phẩy năm đồng).
- + Đối với anh Đặng Văn D2: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Đặng Văn D2 168.712,5đ (một trăm sáu mươi tám nghìn, bảy trăm mười hai phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Đặng Văn D2 168.712,5đ (một trăm sáu mươi tám nghìn, bảy trăm mười hai phẩy năm đồng).
- + Đối với anh Hà Văn T11: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hà Văn T11 403.335,5đ (bốn trăm linh ba nghìn, ba trăm ba mươi lăm phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hà Văn T11 403.335,5đ (bốn trăm linh ba nghìn, ba trăm ba mươi lăm phẩy năm đồng)
22
- + Đối với anh Hoàng Văn K2: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hoàng Văn K2 686.493₫ (sáu trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hoàng Văn K2 686.493₫ (sáu trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng)
- + Đối với anh Nguyễn Hoàng L1 (tên gọi khác là: Dịnh): Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nguyễn Hoàng L1 991.013,5đ (chín trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm mười ba phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Nguyễn Hoàng L1 991.013,5đ (chín trăm chín mươi mốt nghìn, không trăm mười ba phẩy năm đồng).
- + Đối với anh Nguyễn Hoàng H7: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Nguyễn Hoàng H7 263.548đ (hai trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Nguyễn Hoàng H7 263.548đ (hai trăm sáu mươi ba nghìn, năm trăm bốn mươi tám đồng).
- + Đối với anh Bàn Văn T12: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Bàn Văn T12 104.068,5đ (một trăm linh bốn nghìn, không trăm sáu mươi tám phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Bàn Văn T12 104.068,5đ (một trăm linh bốn nghìn, không trăm sáu mươi tám phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Hoàng Văn Q: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hoàng Văn Q 75.568,5đ (bảy mươi lăm nghìn, năm trăm sáu mươi tám phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hoàng Văn Q 75.568,5đ (bảy mươi lăm nghìn, năm trăm sáu mươi tám phẩy năm đồng)
- + Đối với anh Hoàng Phúc Đ: Bị cáo Ma Đại T phải trả anh Hoàng Phúc Đ 162.150,5đ (một trăm sáu mươi hai nghìn, một trăm năm mươi phẩy năm đồng), Bị cáo Trịnh Thị B phải trả anh Hoàng Phúc Đ 162.150,5đ (một trăm sáu mươi hai nghìn, một trăm năm mươi phẩy năm đồng).
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự và Luật Thi hành án dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
[4.1] Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hòm tôn màu trắng, 31 (ba mươi mốt) thẻ uống thuốc methadone; 01 (một) quyển sổ màu đen mặt trước có chữ “CLASSIC, CC-100” bên trong có nhiều chữ và số; 07 (bảy) mảnh giấy trên mặt đều có nhiều chữ viết, chữ số viết tay; 01 (một) mảnh giấy, một mặt có nhiều chữ in có dòng chữ “PHIẾU THU”.
[4.2] Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo:
- - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A77S; số imei 1: 866451064957077; số imei 2: 866451064957069, gắn số thuê bao: 0386.895.895.
23
- - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A95; số imei 1: 862823050117391; số imei 2: 862823050117383, gắn số thuê bao: 0386.744.633.
- - 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu “Masstel”, màu vàng, bàn phím số đã qua sử dụng;
- - 01 (một) điện thoại màn hình cảm ứng màu đen, mặt sau có chữ “SAMSUNG” có sử dụng ốp ngoài màu xanh, đã qua sử dụng;
- - 02 (Hai) điện thoại màn hình cảm ứng màu hồng, mặt sau có dòng chữ “OPPO”;
- - 01 (một) máy tính sách tay nhãn hiệu LENOVO, màu đen, trên mặt có chữ “ThinkPad”, đã qua sử dụng;
- - 01 (một) máy tính bảng màn hình cảm ứng, màu xanh, mặt sau có chữ “SAMSUNG”, đã qua sử dụng.
- - Số tiền 3.714.000đ (ba triệu bảy trăm mười bốn nghìn đồng).
[4.3] Trả lại cho anh Lục Xuân K: 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Lục Xuân K.
(Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn)
5. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Ma Đại T, Trịnh Thị B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
24
|
Nguyễn Thế Doanh |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury)
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Đại T và đồng phạm cho vay lãi nặng
