Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH HÀ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày: 09/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Từ Hữu Yên và ông Nguyễn Văn Hữu
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Vào hồi 07 giờ, 15 phút, ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Quang T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23/5/2002, tại xã Q, huyện Q, Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Quang G; sinh năm 1969; Con bà: Hoàng Thị D; Sinh năm 1973; Anh chị em ruột: Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 đến ngày 19/3/2024 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh, hiện đang tại ngoại ở xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có mặt)
  2. Họ và tên: Hoàng Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/10/1988, tại: xã Q, huyện Q, Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng L, Sinh năm 1945; Con bà: Phạm Thị A, Sinh năm 1950; Anh chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Trịnh Thị Ngọc C; Sinh năm 1998; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ kể từ ngày 20/01/2024, đến ngày 24/01/2024 thì được áp dụng biện pháp C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, hiện đang tại ngoại ở xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có mặt)

1

  • * Người bị hại: Anh Nguyễn Kinh T1, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Vắng mặt)
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    1. Chị Phan Thị Nhất L1; sinh năm 1994; Địa chỉ cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quang T và Hoàng Văn H là người ở cùng thôn, quen biết nhau. Đầu năm 2024, mặc dù không làm việc gì liên quan đến xổ số kiến thiết, tuy nhiên, lợi dụng hiểu biết về công nghệ thông tin, Lê Quang T tạo trang Facebook “Bán số lô đề chuẩn miền B 100% uy tín chuyên nghiệp”, đăng tải các bài viết với nội dung có khả năng cho đúng các số lô, số đề của xổ số miền B sẽ được quay thưởng trong ngày. Những người có nhu cầu xin số của T sẽ liên lạc với Trường T2 có tên “Nguyễn Sỹ V”, đăng ký bằng số điện thoại 0922.602.xxx. Khi có người liên lạc, dù không có khả năng cung cấp các số lô, số đề trúng thưởng nhưng T sẽ nói chuyện, thuyết phục họ rằng mình có khả năng cho đúng số lô, số đề của xổ số miền B mở thưởng trong ngày. Nếu người có nhu cầu đánh tin tưởng thì phải chuyển tiền trước theo cú pháp chuyển khoản là “Tên Zalo của khách hàng và một mã gồm 6 ký tự” (T tự nghĩ ra cú pháp trên và nói dối tài khoản nhận tiền là của Công ty để người mua số tin tưởng). Khi đã nhận được tiền, T tự nghĩ ra một con số ngẫu nhiên rồi nhắn tin cho người mua và nói rằng đây là con số đã được kiểm định. Sau khi xổ số miền B mở thưởng, nếu kết quả trúng thưởng thì T yêu cầu người được cho số phải chuyển tiếp tiền “lộc”, còn không trúng thưởng thì T đưa ra lý do đây là sự cố và hôm sau sẽ tiếp tục cho số để người mua số yên tâm, tin tưởng.

Để tránh bị phát hiện, Lê Quang T thỏa thuận với Hoàng Văn HT sẽ là người đi lừa người khác bằng cách thức trên, còn Hoàng Văn H là người cung cấp số tài khoản ngân hàng để nhận tiền. T nói với H “anh có số tài khoản ngân hàng nào không chính chủ để em nói khách chuyển tiền vào tránh cơ quan Công an phát hiện” thì H đồng ý và cung cấp cho T tài khoản ngân hàng S số [...], chủ tài khoản mang tên Phan Thi Nhat L2H đang sử dụng (số tài khoản này do H mượn của chị Phan Thị Nhất L1, sinh năm 1994, trú cùng thôn), HT thống nhất với số tiền lừa được chuyển vào tài khoản nói trên T được hưởng 90%, H sẽ được hưởng lợi 10%. Khi nào có khách chuyển tiền vào T sẽ nhắn tin cho H qua Facebook Messenger hình ảnh chuyển tiền thành công, H tự hiểu rằng đây là số tiền mà T lừa được thông qua việc cho số lô, số đề, sau đó sẽ rút tiền rồi đưa lại cho T số tiền nhận được bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng B số 55110001645330 của mình rồi tiếp chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng S số [...] của T (H không dùng tài khoản S nói trên chuyển khoản cho T để tránh bị phát hiện).

2

Với cách thức, thủ đoạn nêu trên, Lê Quang T đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Kinh T1, sinh năm 1991, trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 5.000.000 đồng, cụ thể:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/01/2024, sau khi thấy bài đăng trên facebook “Bán số lô đề chuẩn miền B 100% uy tín chuyên nghiệp” của Lê Quang T, anh Nguyễn Kinh T1 sử dụng tài khoản Zalo “T”, đăng ký bằng số điện thoại 0385.871.xxx, nhắn tin tới tài khoản Zalo “Nguyễn Sỹ V” để xin số lô. Trường nói chuyện, thuyết phục anh T1 tin rằng mình có khả năng cho đúng số lô, số đề trong ngày và yêu cầu anh T1 chuyển số tiền 5.000.000 đồng thì mới cho số. Anh T1 tin tưởng và chuyển khoản 5.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng S số [...] theo yêu cầu của T. Sau khi nhận được tiền, T “cho” anh T1 số lô 62 và cam kết sẽ trúng thưởng. Cuối buổi chiều cùng ngày, anh T1 uống rượu say và ngủ quên, khi tỉnh dậy thì xổ số miền B đã quay thưởng nên không kịp đánh, anh T1 dò xem kết quả xổ số miền B thì thấy không có số lô 62 nên nhắn tin hỏi lại T thì T nói rằng có sự cố nên ngày hôm sau sẽ tiếp tục cho số mà không trả lại số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền 5.000.000 đồng của anh T1 được chuyển vào tài khoản ngân hàng S số [...] rồi được Hoàng Văn H chuyển tiếp tới tài khoản ngân hàng B số 55110001645330, sau đó H rút tiền mặt và đưa lại cho T 4.500.000 đồng, H được hưởng 500.000 đồng theo thỏa thuận ban đầu. Cả hai đều sử dụng số tiền này tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Kinh T1, CQCSĐT Công an huyện T đã xác minh, triệu tập Lê Quang T và Hoàng Văn H để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Lê Quang T và Hoàng Văn H xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng thu giữ: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ những đồ vật tài liệu có đặc điểm như sau:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, có số imei 35671711769815, gắn thẻ sim số 0979.252.179, đã qua sử dụng (do Lê Quang T giao nộp);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng Gold có số seri: DNPF83H70D8P số imeil: 356689112307186; số imei 2: 356689111693925 bên trong có gắn thẻ sim số 0358.567699, đã qua sử dụng (do Hoàng Văn H giao nộp);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng có số seri: C39SXUCBHFYC, số imei 1: 353815086234451 bên trong có gắn thẻ sim số 0338.203.502, đã qua sử dụng (do Hoàng Văn H giao nộp).

Hiện các vật chứng này đã được CQCSĐT Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự quản lý theo quy định.

* Về trách nhiệm dân sự: Lê Quang T và Hoàng Văn H đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại (trong đó Lê Quang T nộp 4.500.000 đồng và Hoàng Văn H 500.000 đồng). Anh Nguyễn Kinh T1 đã nhận lại đủ số tiền này và không có yêu cầu gì thêm.

3

* Với hành vi trên, tại cáo trạng số 22/CT-VKS-TH, ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Lê Quang T, Hoàng Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

- Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Quang T, Hoàng Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Lê Quang T 10 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; xử phạt bị cáo Hoàng Văn H 08 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách; Về hình phạt bổ sung: các bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, số tiền chiếm đoạt không nhiều nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu xử lý nộp ngân sách Nhà nước 03 chiếc điện thoại là công cụ các bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội; Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Tại phiên tòa các bị cáo trình bày thống nhất như nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

* Lời nói sau cùng của các bị cáo:

  • + Bị cáo Lê Quang T cho rằng quá trình điều tra bị tạm giam, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo rất hối hận; bản thân bị cáo tuổi còn trẻ, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên mong HĐXX xem xét cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa lỗi lầm của mình.
  • + Bị cáo Hoàng Văn H trình bày bản thân bị cáo chỉ giữ vai trò giúp sức, không trực tiếp tham gia vào hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về Hành vi, quyết định của Cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, kháng định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ cơ sở kết

4

luận: Đầu năm 2024, tại thôn H, xã Q, Q, Thừa Thiên H1, Lê Quang T và Hoàng Văn H đã thỏa thuận, thống nhất với nhau về việc Lê Quang T là người tạo tài khoản Facebook đăng bài gian dối về việc có thể “cho” số lô, số đề trúng thưởng theo kết quả xổ số kiến thiết miền B để người khác tin tưởng, chuyển tiền mua số; còn Hoàng Văn H cung cấp số tài khoản ngân hàng để nhận tiền từ người mua để hưởng lợi. Với cách thức, thủ đoạn trên, khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 18/01/2024, trên không gian mạng xã hội Facebook, Z, Lê Quang T đã lừa và chiếm đoạt được của anh Nguyễn Kinh T1, sinh năm 1991, trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 5.000.000 đồng. Lê Quang T nhận 4.500.000 đồng và cho Hoàng Văn H 500.000 đồng.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Lê Quang T là người khởi xướng và là người trực tiếp thực hành hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hoàng Văn H đóng vai trò là người giúp sức cho Lê Quang T để hưởng lợi. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà truy tố bị cáo Lê Quang T và Hoàng Văn H về tội danh, điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Không;
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi”, theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, cả 02 bị cáo đều đầu thú về hành vi phạm tội của mình; đồng thời người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên cần xem xét cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích trên, HĐXX xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, việc đảm bảo an toàn thông tin trên không gian mạng. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung, nhất là trong điều kiện tội phạm lừa đảo trên không gian mạng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, quá trình lượng hình cũng cần xem xét cho hai bị cáo là thanh niên tuổi đời còn trẻ, có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú), phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng với số tiền chiếm đoạt không nhiều; sau khi phạm tội đã nhân thức được lỗi lầm tự nguyện ra đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho người bị hại; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Xét thấy, cả hai bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 3 tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên chưa

5

cần thiết cách ly ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo, cái tạo giáo dục tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp tự do, thu nhập không ổn định, số tiền chiếm đoạt không nhiều và đã được khắc phục nên xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng: Số vật chứng của vụ án gồm 03 chiếc điện thoại di động thu giữ từ hai bị cáo là những công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, xử lý nộp ngân sách Nhà nước là có căn cứ.

[6] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 BLTTHS bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.

[8]. Các vấn đề khác:

  • - Trong vụ án này có chị Phan Thị Nhất L1, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, là chủ tài khoản ngân hàng S số [...] mà Hoàng Văn H sử dụng để nhận tiền lừa đảo. Tuy nhiên, chị L1 là người quen của Hoàng Văn H, do có tài khoản ngân hàng nhưng không có nhu cầu sử dụng nên đã cho Hoàng Văn H mượn tài khoản ngân hàng trên sử dụng. Chị L1 không biết việc H sử dụng tài khoản ngân hàng của mình vào mục đích vi phạm pháp luật và cũng không được hưởng lợi gì nên CQĐT không xem xét trách nhiệm của chị Phan Thị Nhất L1.
  • - Đối với người bị hại Nguyễn Kinh T1, anh T1 đã có hành vi mua số lô của Lê Quang T, tuy nhiên do anh T1 không thực hiện việc đánh số lô này cho ai nên không có căn cứ để xem xét hành vi Đánh bạc của anh Nguyễn Kinh T1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quang THoàng Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt Lê Quang T 10(mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20(hai mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/5/2024).
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s, khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 BLHS xử phạt Hoàng Văn H 07(bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14(mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (09/5/2024).

6

Giao hai bị cáo Lê Quang T và Hoàng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu xử lý để nộp ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, có số imei 35671711769815, gắn thẻ sim số 0979.252.179, đã qua sử dụng (do Lê Quang T giao nộp);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu vàng Gold có số seri: DNPF83H70D8P số imeil: 356689112307186; số imei 2: 356689111693925 bên trong có gắn thẻ sim số 0358.567699, đã qua sử dụng (do Hoàng Văn H giao nộp);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu hồng có số seri: C39SXUCBHFYC, số imei 1: 353815086234451 bên trong có gắn thẻ sim số 0338.203.502, đã qua sử dụng (do Hoàng Văn H giao nộp).

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh)

4. Về án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Quang THoàng Văn H, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Thạch Hà;
  • - Công an huyện Thạch Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thạch Hà;
  • - UBND xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; (để giám sát, giáo dục)
  • - Bị cáo, Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA+VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Nhân

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ - TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quang Trường và ĐP
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger