Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC THỌ

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 19/2024/HS-ST

Ngày 05/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Nghị

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Đình Sỹ
  2. Ông Trần Văn Khoát

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 22/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 24/5/2024, đối với các bị cáo:

  1. LÊ THANH T, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1974 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn B, xã T, T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nghê nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn K, sinh năm 1935, con bà Trần Thị X, sinh năm 1948; vợ: Trần Thị H, sinh năm 1976; con: Có 04 người, đứa lớn nhất sinh năm 1996, đứa nhỏ nhất sinh năm 2007; anh chị em ruột có 2 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 08/3/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn câm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
  2. PHẠM TRUNG K, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1984 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn T (Đã chết), con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950; vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột có 5 người, bị cáo là con thứ ba; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 09/02/2022, bị Công an phường N, thành phố G, tỉnh Đăk Nông xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”, số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 26/8/2022. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 08/3/2024,

được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

  1. NGUYỄN VĂN M, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1978 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C (Đã chết), con bà Lê Thị N, sinh năm 1948; vợ: Thái Thị Hồng L, sinh năm 1983; con: Có 02 người, đứa lớn nhất sinh năm 2008, đứa nhỏ nhất sinh năm 2012; anh chị em ruột có 4 người, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 08/3/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
  2. PHẠM VĂN T, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1973 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm H (Đã chết), con bà Nguyễn Thị T (Đã chết); vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; con: Có 02 người, đứa lớn nhất sinh năm 2000, đứa nhỏ nhất sinh năm 2004; anh chị em ruột có 6 người, bị cáo là con thứ năm; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 08/3/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).
  3. CAO QUỐC C, sinh ngày 24 tháng 01 năm 1987 tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Cao Thạch S (Đã chết), con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1948; vợ, con: Chưa có; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/5/2016, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 11/7/2017 (đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 08/3/2024, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại tại địa phương (Có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Phạm Hồng L, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt).
  • - Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 06/3/2024, tại nhà anh Phạm Hồng L và chị Nguyễn Thị Y, thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Phạm Trung K, Lê Thanh T, Phạm Văn T và Nguyễn Văn M đang ngồi chơi, uống nước thì Lê Thanh T nói với mọi người: Vào nhà bếp ta làm tý nhỉ, ý rủ ba người vào bếp đánh bạc được thua bằng tiền. Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M đồng ý và cả bốn người cùng đi vào phòng bếp của gia đình anh Phạm Hồng L ngồi xuống chiếc chiếu nhựa đã có sẵn để đánh bạc. Nguyễn Văn M lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn ở góc nhà đặt vào chiếu, Phạm Trung K nói: Ta đánh Liêng nhỉ, đánh nhỏ nhỏ thôi, dâm 10.000 đồng, hết láng 50.000 đồng, cả ba người còn lại đồng ý. Sau đó, Phạm Văn T lấy bộ bài tú lơ khơ phát ván bài đầu tiên. Bốn người đánh được khoảng 15 phút thì Cao Quốc C đến và cùng tham gia đánh bạc. Hình thức đánh như sau:

Bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mỗi người chơi được chia ba quân bài, sau đó so sánh bài để biết thắng thua. Người nào có ba quân bài cùng hàng (Sáp) là cao nhất, tiếp đến là ba quân bài có thứ tự liền nhau (Liêng), tiếp theo là ba quân bài có hình người không liên tiếp nhau (cọc cạch) và cuối cùng là cộng điểm lại, người có số điểm lớn hơn là thắng, trong đó quân bài A (Át) tính là 1 điểm, các quân bài 10, J, Q, K tính là 0 điểm, lấy số hàng đơn vị của tổng điểm để so sánh, tổng số điểm được 9 là cao nhất, nếu những người chơi có số điểm bằng nhau thì so sánh chất thứ tự từ cao xuống thấp là các quân bài “cơ, rô, chuồn, bích”. Người thắng được nhận số tiền của người đã đặt cược và chia ván bài tiếp theo. Mỗi ván bài, người chơi phải đặt cược trước 10.000 đồng và mỗi lần phạt thêm tối đa không quá 50.000 đồng.

Trước khi đánh bạc, Lê Thanh T có 940.000 đồng, Phạm Trung K có 840.000 đồng, Nguyễn Văn M có 1.140.000 đồng, Phạm Văn T có 1.740.000 đồng, Cao Quốc C có 460.000 đồng, đều sử dụng để đánh bạc. Cả năm người đánh bạc đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 5.120.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc.

Thời điểm các bị cáo đánh bạc, chủ nhà là anh Phạm Hồng L và chị Nguyễn Thị Y không có mặt ở nhà nên không biết việc các bị cáo sử dụng nhà của mình để đánh bạc. Quá trình điều tra không xác định được số tiền thắng thua giữa các bị cáo.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSĐT ngày 15/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố Lê Thanh T, Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Thanh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Trung K, Phạm Văn T và Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo số tiền từ 20 triệu đến 30 triệu đồng;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 35 BLHS, xử phạt Cao Quốc C số tiền từ 20 triệu đến 30 triệu đồng.
  • - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: Số tiền 5.120.000 đồng;

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chiếc chiếu nhựa.

Tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều nhận thức được hành vi sai trái của mình và rất hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của quyết định, hành vi của các cơ quan, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ; các Điều tra viên, Kiểm sát viên thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có QLNV liên quan ông Phạm Hồng L và bà Nguyễn Thị Y nhưng những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và việc vắng mặt họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật TTHS, xét xử văng mặt những người này.

  1. Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; cũng như phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định được: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ 30 phút ngày 06/3/2024, tại nhà anh Phạm Hồng L và chị Nguyễn Thị Y, thôn B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, các đối tượng gồm: Lê Thanh T, Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức “Đánh liêng”, thắng thua bằng tiền, với tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc đã chứng minh được là 5.120.000 đồng. Các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, như vậy hành

vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

  1. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Lê Thanh T, Phạm Trung K, Nguyễn Văn M và Phạm Văn T Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, ông Lê Văn K, bố đẻ bị cáo Lê Thanh T được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vả vang hạng Nhì, cá nhân bị cáo hiện đang bị bệnh hiểm nghèo (Xơ gan độ 4, giai đoạn cuối); ông Cao Thạch S, bố đẻ bị cáo Cao Quốc C được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên Lê Thanh T và Cao Quốc C còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  1. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì máu ham mê trò chơi cờ bạc mà đã bất chấp quy định pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, việc đưa vụ việc ra xét xử nghiêm minh, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình là điều cần thiết, để các bị cáo nhận thức được lỗi lầm của mình, cũng như góp phần răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi xem xét mức hình phạt cân phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cũng như vị trí, vai trò, nhân thân của từng bị cáo:

Đối với Lê Thanh T: Là người người khởi xướng, rủ rê và là người thực hành tích cực nhất, thực hành từ đầu đến khi bị bắt, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; số tiền đánh bạc không lớn; đặc biệt hiện tại bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo, xơ gan độ 4 (Thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện) nên tính nguy hiểm của bị cáo đối với xã hội không lớn vì vậy đối với bị cáo không cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục là có căn cứ, phù hợp với tính chất nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Đối với Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C đều là những đồng phạm tham gia với vai trò thực hành. Tuy nhiên trong vụ án này, các bị cáo đánh bạc bằng hình thức “Đánh liêng”, “Dâm” 10.000 đồng, tính chất sát phạt không cao mà ham chơi là chủ yếu; tổng số tiền tham gia đánh bạc không lớn (5.120.000 đồng); các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng

nặng, vì vậy đối với những bị cáo này chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo bằng hình thức phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục. Trong số 4 đối tượng này thì Phạm Trung K và Cao Quốc C là những người có nhân thân xấu nên cần lên mức phạt cao hơn các bị cáo khác.

  1. Về hình phạt bổ sung: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng: Số tiền 5.120.000 đồng, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo đã sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung quỷ nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ và 01 chiếc chiếu nhựa, đây là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.

  1. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo: Lê Thanh T, Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thanh T 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Trung K số tiền 25.000.000 đồng (Hai lăm triệu đồng)
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Cao Quốc C số tiền 25.000.000đồng, (Hai lăm triệu đồng).
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn T và Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng)

Giao bị cáo Lê Thanh T cho UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 5.120.000 đồng:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài và 01 chiếc chiếu nhựa nhiều màu sắc.
  2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc: Lê Thanh T, Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo Lê Thanh T, Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Phạm Hồng L và bà Nguyễn Thị Y vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - CQCSĐT Công an Đ;
  • - CQTHAHS Công an Đ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND xã T;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỘNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quang Nghị

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Thanh T,Phạm Trung K, Phạm Văn T, Nguyễn Văn M và Cao Quốc C phạm tội " Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger