|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 03/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Vĩnh My
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Xuân Nam
2. Bà Trương Thị Tố Uyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Nam Hải - Thư ký chính Tòa án nhân dân huyện Đakrông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông tham gia phiên tòa: Ông Trần Nhật Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thị Mỹ D, sinh 22 tháng 02 năm 1974 tại Quảng Trị; giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: Khóm E, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh;; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm N, sinh năm 1945 và bà Võ Thị H, sinh năm 1952; chồng Nguyễn Văn S, sinh năm 1970; có 03 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024 đến ngày 09/01/2024; thay đổi áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm N, sinh năm 1945; nơi cư trú: Khóm E, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị- Vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Ông Phạm Bá T, sinh năm: 1990; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 phút; ngày 03/01/2024, Phạm Thị Mỹ D thuê anh Phạm Bá T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 74k-9316 chở heo giống từ thị trấn D, huyện H lên huyện H, tỉnh Quảng Trị và chở hàng về ngược lại. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi giao hàng xong T điều khiển xe ô tô chở D đi đến ngã ba T, xã T, huyện H. Tại đây, D nói T đi ăn cơm, còn D sẽ nhận và bốc chuối khách thuê chở về thị xã Q lên thùng xe. Trong lúc D đang bốc chuối thì có một người phụ nữ lạ mặt điều khiển xe Sirius màu đỏ đen không biển số đến thuê D chở 1.700 bao thuốc lá JET về thị xã Q với tiền công là 500.000 đồng, thì D đồng ý. Sau khi, D và người phụ nữ này đưa 1.700 bao thuốc lá JET được bỏ trong 03 bao gai màu cam và 01 bao gai màu xanh lên thùng xe. Người phụ nữ này nói với D vận chuyển số thuốc lá nói trên về bỏ xuống khu vực cầu T, thị xã Q sẽ có người đến nhận và đưa cho D 500.000 đồng tiền công vận chuyển. Sau đó, D bốc số chuối còn lại lên thùng xe và gọi điện cho anh T điều khiển xe ô tô chở D cùng hàng hoá theo hướng về huyện H, khi xe chạy đến Km41- Quốc lộ I thuộc địa phận thị trấn K, huyện Đ bị lực lượng Công an huyện Đakrông dừng phương tiện kiểm tra, lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ tang vật.
Kết luận giám định số: 138/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 1.700 bao thuốc lá, ghi nhãn hiệu JET được niêm phong trong hai thùng giấy carton ký hiệu T1 và T2 gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm (loại 20 điếu/bao), không phải là thuốc lá điếu sản xuất tại Việt Nam.
Cáo trạng số: 14/CT-VKSĐKR ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông truy tố bị cáo Phạm Thị Mỹ D về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị Mỹ D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Mỹ D từ 30 đến 40 triệu đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 1.660 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET là hàng cấm còn lại sau giám định và 04 bao gai, 04 mảnh bao gai, 02 bao ni lông không có giá trị sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị Mỹ D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, không tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên và Kiểm sát viên huyện Đ: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo có đủ căn cứ xác định: Ngày 03/01/2024, bị cáo Phạm Thị Mỹ D có hành vi vận chuyển 1.700 bao thuốc nhãn hiệu JET từ xã T huyện H về thị xã Q cho một người phụ nữ không rõ lai lịch để nhận tiền công 500.000 đồng.
Hành vi vận chuyển 1.700 bao thuốc lá hiệu JET của bị cáo Phạm Thị Mỹ D đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào...vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây...thì bị phạt tiền từ 50.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
b) Thuốc lá điếu nhập lập từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao;".
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Phạm Thị Mỹ D theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức hành vi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi vận chuyển 1.700 bao thuốc lá nhãn hiệu JET từ xã T huyện H về thị xã Q của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh. Đây là loại tội phạm, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh thương mại có quy định khung hình phạt tiền đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, khi gia đình và bản thân bị cáo có tài sản, thu nhập. Vì vậy, cần phải áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm nghiêm trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện nộp 500.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội mà có (Án lệ số 48/2021/AL1). Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, xử phạt tiền bị cáo dưới mức khung hình phạt theo chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về áp dụng biện pháp ngăn chặn: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Phạm Thị Mỹ D tại Lệnh số: 11/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 1.660 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET còn lại sau giám định và 02 bao gai màu xanh, 01 bao gai màu xám, 01 bao gam màu cam, 01 mảnh bao gai màu xanh, 03 mảnh bao gai màu cam, 02 bao ni lông trong suốt không có giá trị sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 500.000 đồng tiền do bị cáo phạm tội mà có.
Đối với xe ô tô biển kiểm soát 74K-9316; các giấy tờ kèm theo, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus giai đoạn điều tra cơ quan Công an đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị Mỹ D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; Điều 35; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Mỹ D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Mỹ D 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 960 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET niêm phong trong thùng giấy ký hiệu TL1 và 700 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu JET niêm phong trong thùng giấy ký hiệu TL2 có dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Q và 02 bao gai màu xanh, 01 bao gai màu xám, 01 bao gam màu cam, 01 mảnh bao gai màu xanh, 03 mảnh bao gai màu cam, 02 bao ni lông trong suốt.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 500.000 đồng tiền do bị cáo phạm tội mà có.
3. Về án phí: Bị cáo Phạm Thị Mỹ D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan quyền lợi, nghĩa vụ trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Vĩnh My |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/01/2024 bị cáo Phạm thị Mỹ D thực hiện hành vi vận chuyển 1.700 gói thuốc là Zet cho một người phụ nữ không rõ lai lịch để nhận 500.000 đồng tiền công thì bị Công an huyện Đakrông bắt phạm tội quả tang.
