TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 12-4-2024
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bạch Nhật Tuyến
Bà Quách Thị Hồng Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 389/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Huỳnh N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp G, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Anh Võ Văn T, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Số C ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị Cao Huỳnh N có mặt tại phiên tòa, anh Võ Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Huỳnh N trình bày:
Chị N và anh T có tự tìm hiểu nhau khoảng 01 năm trước khi sống chung vợ chồng vào năm 2007, gia đình có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn ngày 03/4/2012 tại UBND xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường hay cự cải khi gặp nhau, anh T hay ghen tuông, kiếm chuyện vô cớ, nhiều lần anh T đánh chị. Đến tháng 01/2018 chị N bỏ đi làm ở Bình Dương cho đến năm 2023 chị về nhà cha mẹ ruột ở Cà Mau sinh sống cho tới nay. Hiện vợ chồng không còn tình cảm, đã ly thân hơn 6 năm nay không liên lạc gì.
Nay chị N nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm đối với anh T không còn nên chi N yêu cầu ly hôn anh T.
- Về nuôi con chung: Có 02 con chung: Võ Huỳnh Phương V, sinh ngày 27/8/2012 và Võ Huỳnh Vũ D, sinh ngày 08/4/2014, hiện 2 con chung đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu được nuôi dưỡng cả 2 con chung, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị N không còn yêu cầu gì khác.
* Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Võ Văn T trình bày:
- Về hôn nhân: Thời gian sống chung vợ chồng, đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng. Hiện vợ chồng đã sống ly thân 4-5 năm nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng là do khi anh T bị bệnh thì chị N bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Cà mau sinh sống cho tới nay, không tới lui, liên lạc gì với nhau. Theo anh T hiện nay tình cảm vợ chồng không còn thương nhau thì dứt khoát cho xong. Anh T đồng ý ly hôn chị N.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Có 2 con chung Võ Huỳnh Phương V, sinh ngày 27/8/2012 và Võ Huỳnh Vũ D, sinh ngày 08/4/2014, hiện 2 con chung đang sống với chị N. Khi ly hôn anh T đồng ý để chị N nuôi dưỡng 02 con chung, anh T không cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Anh T xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
* Tại bản khai ngày 22/11/2023, cháu Võ Huỳnh Phương V và Võ Huỳnh Vũ D trình bày: Khi cha mẹ ly hôn và không còn sống chung với nhau nữa, thì cháu Phương V và Vũ D có nguyện vọng được sống chung với mẹ.
* Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như nguyên đơn, bị đơn đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
- Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Huỳnh N. Cho chị Cao Huỳnh N ly hôn anh Võ Văn T.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Giao 02 con chung tên Võ Huỳnh Phương V, sinh ngày 27/8/2012 và Võ Huỳnh Vũ D, sinh ngày 08/4/2014 cho chị Cao Huỳnh N chăm sóc nuôi dưỡng (Hiện 02 con đang sống chung với chị N), anh T không cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị N và anh T xác định là không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Nguyên đơn chị Cao Huỳnh N khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Võ Văn T là loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Anh Võ Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh T theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Về hôn nhân: Chị N và anh T chung sống vợ chồng từ năm 2007, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 03/4/2012 tại UBND xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Chị N và anh T đều thừa nhận thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả, anh T có nhiều hành vi bạo lực gia đình với chị N. Hiện vợ chồng sống ly thân hơn 6 năm, đã không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau.
Tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng như sau:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau...”
Và tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn
4
nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.
Đã hơn 06 năm chị N, anh T sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lo lắng cho nhau. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án cũng đã động viên chị N hàn gắn tình cảm, đoàn tụ vợ chồng, nhưng chị N vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn và anh T cũng đồng ý ly hôn chị N.
Vì vậy, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị N, anh T đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc nhau. Nếu chị N, anh T đoàn tụ tiếp tục chung sống thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét thấy việc chị N yêu cầu được ly hôn anh Thà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Tại khoản 1, khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên...
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện các cháu Võ Huỳnh Phương V và Võ Huỳnh Vũ D đang có cuộc sống ổn định với chị N. Phía chị N chăm sóc nuôi dưỡng các cháu đảm bảo, ý kiến của cháu Vũ D và Phương V đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn; chị N, anh T cũng thống nhất việc giao 02 con chung cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng khi ly hôn.
Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Võ Huỳnh Phương V và Võ Huỳnh Vũ D cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với yêu cầu của chị N, phù hợp nguyện vọng của hai cháu, đúng quy định pháp luật và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt cho hai cháu trong sinh hoạt, học tập. Anh T được quyền tới lui thăm nom chăm sóc 02 con chung, không ai được quyền cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị N không có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau khi ly hôn trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị N, anh T xác định là không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Cao Huỳnh N phải chịu toàn bộ tiền án phí sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
5
[4] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Huỳnh N. Cho chị Cao Huỳnh N ly hôn anh Võ Văn T.
- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung:
- Chị Cao Huỳnh N được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung tên Võ Huỳnh Phương V, sinh ngày 27/8/2012 và Võ Huỳnh Vũ D, sinh ngày 08/4/2014 (Hiện cháu Phương V và cháu Vũ D đang sống với chị N).
- Chị Cao Huỳnh N không có yêu cầu anh Võ Văn T cấp dưỡng nuôi 02 con chung sau ly hôn trong vụ án này, nên không xem xét.
- Anh Võ Văn T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom 02 con chung, không ai được cản trở.
- Về chia tài sản chung và nợ chung: Do chị Cao Huỳnh N và anh Võ Văn T xác định là không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Cao Huỳnh N nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị N đã nộp ngày 18/12/2023 theo biên lai thu số 0003861 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ toàn bộ án phí phải nộp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Trí |
7
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn