trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hạnh;
  2. Ông Nguyễn Huy Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 409/2023/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 03 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Hẻm G đường T, thôn Á, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Vũ Thị Bích N, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số nhà B đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 17/10/2023 và những lời trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Phi H thể hiện như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phi H và bà Vũ Thị Bích N có thời gian quen biết và tìm hiểu nhau khoảng 05 năm, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31 quyển 01/2005, ngày 18/03/2005, việc chung sống là tự nguyện.

Vợ chồng chỉ chung sống với nhau từ năm 2005 đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, vợ chồng không tôn trọng nhau nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2007 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai.

Nay do tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên ông Nguyễn Phi H yêu cầu được ly hôn với bà Vũ Thị Bích N.

- Về con chung: Ông H và bà N có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 20/10/2005. Hiện nay cháu H1 đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường nên ông H không yêu cầu xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông H xác nhận ông và bà N không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Vũ Thị Bích N không đến Tòa án làm việc, không gửi bản tự khai nên không có ý kiến trình bày.

Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Nguyên đơn ông H có đơn xin vắng mặt.
  • Bị đơn bà Vũ Thị Bích N không có mặt mặc dù đã được Toà án tiến hành các thủ tục tố tụng hợp lệ từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, cũng không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông H được ly hôn với bà Vũ Thị Bích N. Về con chung cháu Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 20/10/2005 hiện đã thành niên nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét giải quyết;
  • Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án, HĐXX xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn hiện đang cư trú tại số B đường N, tổ A, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn ông Nguyễn Phi H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Vũ Thị Bích N vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228, điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3].Về nội dung vụ án:

[3.1].Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phi H và bà Vũ Thị Bích N tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 31 quyển số 01/2005 ngày 18/03/2005 đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Ông H cho rằng vợ chồng chỉ có thời gian sống với nhau từ năm 2005 đến năm 2007 nhưng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, vợ chồng không tôn trọng nhau nên từ năm 2007 vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông H yêu cầu được ly hôn với bà N.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà N nhiều lần để tác động, hòa giải nhưng bà N vẫn cố tình vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Mặt khác, qua xác minh người thân và chính quyền địa phương thì thấy rằng giữa ông H và bà N có xảy ra mâu thuẫn nên từ năm 2007 đến nay ông H và bà N không còn chung sống cùng nhau nữa. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông H và bà N đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, xử cho ông H và bà N được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.

[3.2].Về con chung: Qua tài liệu, chứng cứ do ông H xuất trình trong hồ sơ thì xác định giữa ông Nguyễn Phi H và bà Vũ Thị Bích N có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 20/10/2005. Hiện con chung đã trưởng thành, khỏe mạnh và phát triển bình thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Ông H xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.

[5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Phi H xử cho ông Nguyễn Phi H được ly hôn với bà Vũ Thị Bích N.
  2. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 20/10/2005 đã trưởng thành, khỏe mạnh, có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Phi H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng ông H đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0005991 ngày 29/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Bảo Lộc;
  • - Chi cục THADS thành phố Bảo lộc;
  • - UBND xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Lê Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ANH H YÊU CẦU LY HÔN VỚI CHỊ N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger